JA Teline V - шаблон joomla Форекс
17
Mon, Jun

Thị trường chứng kiến nhiều cổ phiếu có mức giá cao và tăng trưởng nóng nhưng lại giúp nhà đầu tư thu về mức lợi suất cao.

Benjamin Graham, "cha đẻ" của trường phái đầu tư giá trị, đã qua đời hơn 30 năm trước. Tuy nhiên, ý tưởng mà ông khai sinh ra – mua cổ phiếu ở mức giá rẻ và giữ chúng để thu được mức lợi suất siêu cao trong dài hạn – vẫn còn được nhiều người theo đuổi cho đến tận ngày nay.

Dẫu vậy, trong thời gian gần đây, thị trường chứng kiến nhiều cổ phiếu có mức giá cao và tăng trưởng nóng nhưng lại giúp nhà đầu tư thu về mức lợi suất cao và khiến các cổ phiếu giá trị trở nên kém hấp dẫn. Vậy thì có phải triết lý của Graham đã không còn đúng nữa? Câu trả lời chắc chắn là không. Tuy nhiên, các nhà đầu tư giá trị cũng không thể chối bỏ sự thực và có lẽ họ đang suy nghĩ liệu có phải thế giới đã thay đổi hay không.

Trong quan điểm đầu tư của Graham, người thầy của nhà tiên tri xứ Omaha Warren Buffett và là một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất, có 3 trụ cột chính.

Trước tiên, một cổ phiếu không phải là một mảnh giấy hay một chấm nhỏ trên màn hình, mà nó đại diện cho số cổ phần mà nhà đầu tư sở hữu trong 1 công ty. Giá cổ phiếu được xác định dựa trên dòng tiền mà công ty đó sản sinh trong tương lai.

Thứ hai, thị trường chứng khoán có thể nhanh chóng chuyển từ trạng thái hưng phấn sang chán chường cực độ, nhưng bạn không có nghĩa vụ phải chia sẻ chung tâm trạng đó.

Thứ ba, bạn phải tính đến biên an toàn – tức là giá trị của cổ phiếu nên được xác định trong một khoảng nào đó, với nhiều khả năng xảy ra chứ không phải là một con số chính xác tuyệt đối, với sự chắc chắn tuyệt đối.

Phó Chủ tịch Berkshire, Charlie Munger, từng nhận định phương pháp tiếp cận của Graham sẽ không bao giờ lỗi thời. Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian gần đây phong cách đầu tư của Graham đã trở nên kém hấp dẫn.

Benjamin Graham - Ảnh 1.

Trong 5 năm qua, chỉ số S&P 500 Growth Index với đặc trưng là các cổ phiếu tăng trưởng nóng như Amazon và Alphabet đã tăng trưởng 14,2% mỗi năm, trong khi chỉ số S&P 500 Value Index với những cổ phiếu giá trị như JPMorgan và AT&T chỉ đem về mức lợi suất 8,7% mỗi năm. Xét trong quãng thời gian dài hơn, trong 20, 25, 30, 35 và 40 năm trở lại đây, nhóm Growth cũng nhỉnh hơn một chút so với nhóm Value.

Một phần nguyên nhân là do càng lớn hơn thì các ông lớn công nghệ ngày càng hùng mạnh hơn thay vì trở nên trì trệ. Điều đó đồng nghĩa các đối thủ yếu hơn không thể hồi phục sau các cú ngã, khiến các cổ phiếu đảo chiều mà các nhà đầu tư giá trị ưa thích ít xuất hiện hơn.

Sau khi bong bóng công nghệ vỡ tung đầu những năm 2000, các nhà đầu tư quay sang ưa chuộng sự an toàn hơn là tăng trưởng. Trong 10 năm tính đến cuối năm 2014, các nhà đầu tư đã rút khoảng 273 tỷ USD khỏi các quỹ đầu tư vào nhóm cổ phiếu tăng trưởng để rót 87 tỷ USD vào các quỹ đầu tư giá trị, theo số liệu của Morningstar. Và khi mà đầu tư giá trị trở nên phổ biến hơn, lợi suất mà nó đem lại bị giảm xuống.

Trong khi đó, ngày càng ít nhà đầu tư giá trị phân tích từng cổ phiếu cổ phiếu một bằng tay. Họ thường sử dụng máy tính để phân tích cùng lúc một loạt cổ phiếu. Điều này giúp giảm chi phí, nhưng cũng khiến giá tăng lên, làm giảm nguồn cung các món hời, theo Tano Santos – đồng sáng đốc của Heilbrunn Center for Graham & Dodd Investing trực thuộc Columbia Business School.

Michael Mauboussin – giám đốc nghiên cứu tại quỹ đầu cơ BlueMountain có trụ sở tại New York, ví việc lựa chọn cổ phiếu cũng giống như trò poker. Trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều quỹ đầu tư chỉ số chi phí thấp và chiến lược phân tích tự động ngày càng trở nên phổ biến, những người yếu hơn sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và trên bàn chỉ còn lại những người thông minh nhất. Để những người còn lại có lời thì phải có người bị thua lỗ. Cuộc chơi ngày càng trở nên khó hơn chứ không phải đơn giản hơn và dễ hơn.

Nếu còn sống đến tận bây giờ, có lẽ Graham sẽ cảm thấy khá lạc lõng. Trong cuốn "Nhà đầu tư thông minh", ông bày tỏ sự hoài nghi lớn đối với các doanh nghiệp quá dư thừa tiền mặt. Trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng, ông đã kỳ thị các công ty tích lũy tiền mặt cho riêng mình thay vì trả cổ tức cho nhà đầu tư.

Ngày nay, Amazon có lượng tiền mặt khổng lồ và CEO dùng chúng để tái đầu tư vào những dự án mạo hiểm mà phải rất nhiều năm mới mang về quả ngọt. Cổ phiếu Amazon không bao giờ rẻ nếu áp dụng cách tính toán của phương pháp đầu tư giá trị truyền thống, nhưng mới đây Berkshire đã mua vào cổ phiếu này.

Theo giáo sư Santos, định giá các CEO của những công ty giàu tiền mặt, những người phải phân bổ hàng tỷ USD vốn, đã trở thành một nhiệm vụ của nhà đầu tư giá trị hiện đại. Chí ít thì đến thời điểm này đây là nhiệm vụ mà con người làm tốt hơn các phần mềm máy tính. Trong thế giới ngày nay, điều này càng có ý nghĩa quan trọng nếu nhà đầu tư muốn tách mình ra khỏi đám đông.

Điều đó cũng dẫn đến công việc mà kể cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp nhất cũng cảm thấy khó khăn: đầu tư một cách kiên nhẫn vào những công ty tập trung vào các mục tiêu dài hạn thay vì lợi nhuận ngắn hạn và biến động giá cổ phiếu trong ngắn hạn.

theo WSJ

Tiếp thep phần 1 thì chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày về cách đọc các khoản mục còn lại của bảng cân đối kế toán trong bài hôm nay.

  1. Tài sản cố định vô hình

Đây là 1 khoản mục mà hầu hết những nhà đầu tư cá nhân thường vội vàng bỏ qua khi xem báo cáo tài chính, tuy nhiên, Buffett khuyên nhà đầu tư nên dành thời gian ngâm cứu về khoản này nếu có trong bảng cân đối kế toán hoặc thuyết minh báo cáo tài chính.

  • Một trong các khoản mục tài sản vô hình cần trú trọng là quyền sử dụng đất. Lô đất đó nằm ở đâu? Tài sản hình thành trên đất là gì? Giá trị ghi sổ là bao nhiêu? Ước tính giá trị là bao nhiêu?

    https://tuvanluatdoanhnghiep.info/wp-content/uploads/2016/01/120.jpg

    Ảnh: nguồn Internet

Bạn có thể tham khảo các báo cáo của các công ty chứng khoán, hoặc sử dụng phương pháp tin đồn trên báo chí, internet để ước tính giá đất ở khu vực đó và dựa trên thông tin có được từ diện tích, bạn có thể phần nào ước tính được giá trị thực của khu đất ấy.

Đây là giá trị không được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Hãy chú ý đến nó vì giá trị của lô đất có thể ở thời điểm hiện tại đã tăng gấp hàng chục lần.

Ngoài ra còn các tài sản vô hình khác như: lợi thế cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, bản quyền, giấy phép… cũng cần được tính đến khi đánh giá doanh nghiệp

Những tài sản vô hình này càng lớn, càng nhiều thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn, rào cản đối với những doanh nghiệp mới muốn ra nhập ngành hoặc cạnh tranh với doanh nghiệp chúng ta nghiên cứu càng lớn.

Bạn cần phải ghi nhớ kỹ những điều này khi đánh giá tài sản vô hình, nếu không bạn có thể bỏ sót những doanh nghiệp rất tốt, những cơ hội đầu tư tuyệt vời, trong khi lại chạy theo những doanh nghiệp “cấp thấp” không có chút lợi thế nào.

  1. Lợi thế thương mại.
https://ytho.com.vn/wp-content/uploads/2015/12/loi-thue-thuong-mai-la-gi-goodwill-la-gi.jpg

Ảnh: nguồn internet

Khoản mục “Lợi thế thương mại” tăng lên trên bảng cân đối kế toán thì tức là doanh nghiệp vừa thực hiện 1 giao dịch thâu tóm 1 doanh nghiệp khác với giá cao hơn giá trị sổ sách của doanh nghiệp bị thâu tóm.

Tất nhiên, một doanh nghiệp bình thường sẽ rất khó bị bán với giá thấp hơn giá trị sổ sách của nó, trừ khi cả thị trường chứng khoán đang ở trong 1 cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.

Do đó, theo Buffett thì khi thấy mục “Lợi thế thương mại” thì chúng ta nên đánh giá doanh nghiệp bị thâu tóm. Nếu đó là 1 doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì bạn có thể yên tâm 1 phần rằng lợi thế thương mại trong trường hợp này là 1 dấu hiệu tốt.

  1. Nợ ngắn hạn

Nợ ngắn hạn hay nợ lưu động (current liabilities) là khái niệm để chi các khoản nợ ngắn hạn đối với các nhà cung cấp, ngân hàng v.v…trong phạm vi một năm.

Về bản chất, đó là những hóa đơn phải trả giữa người đi vay và người cho vay trong một khoảng thời gian ngắn. Thông thường, công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn của họ.

Các khoản nợ phải trả ngắn hạn bao gồm:

– Vay ngắn hạn

– Khoản nợ dài hạn đến hạn trả

– Các khoản phải trả người bán ngắn hạn

– Thuế và các khoản nộp Nhà nước

– Các khoản phải trả người lao động

– Các khoản chi phí phải trả ngắn hạn

– Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn

– Các khoản phải trả ngắn hạn khác

Đối với các khoản phải trả, bạn nên xem xét vòng quay khoản phải trả để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp.

Đối với các khoản nợ vay ngắn hạn, tùy theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà đòi hỏi cấu trúc nợ vay ngắn hạn khác nhau, tuy nhiên, dù thế nào thì một doanh nghiệp có ít nợ vay ngắn hạn thì càng tốt.

Đặc biệt đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng, Warren Buffett thường tránh những công ty có tỷ lệ nợ vay ngắn hạn cao.

  1. Nợ dài hạn

Nợ dài hạn là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo.

Buffett cho rằng những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững thường có rất ít hoặc không có nợ vay dài hạn, bởi vì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp rất cao, ổn định và hoạt động kinh doanh luôn tạo ra dòng tiền dương đủ để tài trợ cho hoạt động đầu tư của mình, kể cả trong các trường hợp thâu tóm doanh nghiệp khác.

Nhà đầu tư nên đánh giá nợ vay dài hạn của doanh nghiệp trong 1 khoảng thời gian từ 5 – 10 năm.

Nếu trong khoảng thời gian này, doanh nghiệp sử dụng ít hoặc không có nợ vay mà vẫn có thể mở rộng kinh doanh thì chắc chắn doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh lớn trong ngành.

Trong trường hợp doanh nghiệp có nợ dài hạn lớn thì thì đi kèm với nó cũng phải có dòng tiền mặt tạo ra lớn, ban lãnh đạo ưu tiên sử dụng tiền để trở nợ sớm các khoản nợ dài hạn để tránh áp lực đòn bẩy cho doanh nghiệp.

Nếu nghiên cứu các khoản đầu tư của Buffett ta có thể thấy ông luôn ưu tiên những doanh nghiệp có lợi nhuận hàng năm đủ để trả toàn bộ nợ vay dài hạn trong khoảng 3 – 4 năm (đối với trường hợp của Coca Cola và Moody’s chỉ là 1 năm).

Qua 2 khoản mục nợ ngắn hạn và nợ dài hạn thì chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quan về nợ của doanh nghiệp: phần lớn những DN tốt sẽ dùng khả năng tạo lợi nhuận của mình để tái đầu tư cho các kế hoạch phát triển tương lai mà ít lạm dụng vào nợ.

https://lee-legal.com/wp-content/uploads/2017/11/Feds-Sue-Nations-Largest-Debt-Settlement-Company-Lee-Legal-Debt-Settlement-DC-Virginia-Maryland-1024x424.jpg

Ảnh: nguồn internet

Một trong những yếu tố quan trọng của sự cân đối tài chính là tài sản dài hạn cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng. Một doanh nghiệp nếu đầu tư vào một dự án dài hạn có thời hạn khoảng 15 năm mà vay bằng một khoản vay 6 năm, không sớm thì muộn, điều này sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Để sớm nhận biết được điều này, nhà đầu tư cần quan sát xu hướng biến động lịch sử dài hạn của vốn lưu động thuần (WC). Có thể tính WC theo công thức sau: WC = (Tài sản ngắn hạn – Tiền, tương đương tiền – Đầu tư ngắn hạn) – (Nợ ngắn hạn – vay nợ ngắn hạn)

Nếu WC có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn thì điều này đang báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt của mất cân đối tài chính.Vốn lưu động thuần âm cho thấy công ty đã dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

– Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn giảm theo các năm là một dấu hiệu tốt.

Một số chỉ số tài chính chúng ta nên sử dụng để có cái nhìn tốt hơn về tình hình sử dụng đòn bẩy của doanh nghiệp.

– Hệ số nợ = Nợ/Tổng tài sản. Buffett ưa thích doanh nghiệp có hệ số nợ < 0.5 và càng thấp thì càng tốt.

– Hệ số thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động ( tổng TS Ngắn hạn)/ Tổng nợ hiện hành (hay tổng nợ ngắn hạn) . Nếu tỉ số này >1 thì là tốt, >2 thì rất tốt, <1 thì là không tốt. Nhưng nó không cho ta biết công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không.

– Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ / VCSH. Buffett thích công ty có hệ số này càng thấp càng tốt. Và nếu hệ số này <0.8 thì rất có khả năng đây là công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Như vậy chúng tôi đã trình bày cho các bạn về những điều cần chú ý khi đọc bảng cân đối kế toán theo cách của Buffett. Mong những kiến thức trên sẽ giúp nhà đầu tư thành công hơn trong việc lựa chọn một doanh nghiệp tốt cho danh mục đầu tư giá trị.

theo Warren Buffett Financial Report

Tiếp theo phần về báo cáo kết quả kinh doanh, trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp về cách đọc bảng cân đối kế toán của Warrent Buffett.

Bảng cân đối kế toán giúp nhà đầu tư có thể nghiên cứu về tài sản của doanh nghiệp, các khoản nợ và vốn chủ sở hữu trong thời điểm lập báo cáo.

https://previews.123rf.com/images/wirojsid/wirojsid1508/wirojsid150800037/43087689-rapporto-di-bilancio-con-calcolatrice-e-penna-il-documento-%C3%A8-un-mock-up.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Trong bảng cân đối kế toán các bạn có thể thấy 2 phần Tài sản, nguồn vốn

Phần 1: Tài sản bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, đất đai, máy móc thiết bị nhà xưởng,…

Phần 2: Bao gồm Nợ và vốn chủ sở hữu.

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về các khoản mục này qua bài viết hôm nay nhé.

  1. Tiền mặt và các khoản tương đương tiền
http://sohanews.sohacdn.com/thumb_w/660/2017/photo1511063538874-1511063539018-0-0-636-1024-crop-1511063544255.jpg

Ảnh: Internet

Có thể nói tiền mặt là công cụ mạnh nhất để một doanh nghiệp có thể chống chọi với thời điểm khó khăn. Một doanh nghiệp liên tục thiếu tiền mặt thì không thể có tình hình tài chính ổn định.

Một lượng tiền mặt cao có thể được hiểu là 1 trong những tình huống sau:

  • Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo ra nhiều tiền mặt liên tục.
  • Doanh nghiệp vừa có 1 khoản thu nhập bất thường nào đó

Nếu tiền và các khoản tương đương tiền nếu ở mức cao thường có 2 mặt:

  • Mặt tích cực là có thể doanh nghiệp có 1 lợi thế cạnh tranh bền vững giúp hoạt động kinh doanh tạo ra tiền mặt liên tục
  • Mặt tiêu cực là doanh nghiệp đang “bế tắc” trong việc tái đầu tư dòng tiền tạo ra, do đó không còn cách nào khác là gửi ngân hàng hoặc trả cổ tức tiền mặt cao cho cổ đông

Ngoài ra, tiền mặt cao cũng có thể doanh nghiệp vừa có 1 khoản dòng tiền bất thường nào đó, mà chúng ta có thể tìm hiểu trong phần thuyết minh.

Theo Buffett thì số dư tiền mặt cần chiếm khoảng ít nhất 10% nợ ngắn hạn thì mới được coi là có lượng tiền mặt tương đối khá (tức là hệ số khả năng thanh toán tức thời = tiền và tương đương tiền/nợ ngắn hạn khoảng từ 10% trở lên).

Tiền tăng liên tục thì dấu hiệu tốt, còn giảm liên tục, teo tóp dần là dấu hiệu xấu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông thường, có 3 cách để có 1 lượng dự trữ tiền mặt lớn, đó là:

  • Phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu
  • Bán tài sản lớn hoặc công ty con, hoặc công ty liên kết
  • Hoạt động kinh doanh tốt nên tạo ra dòng tiền dương.

Nhà đầu tư nên đọc bảng cân đối của doanh nghiệp trong từ 3-10 năm để đánh giá chính xác nguồn tiền mặt được tạo ra từ đâu trong 3 cách trên.

Khi môt doanh nghiệp gặp phải những khó khăn ngắn hạn về kinh doanh hoặc tài chính, Warren Buffett thường nhìn vào lượng tiền mặt và những giấy tờ có giá dễ thanh khoản để đánh giá sức mạnh tài chính của doanh nghiệp có đủ để vượt qua những khó khăn ngắn hạn đó hay không.

Khi đó, lượng tiền mặt, tiền gửi ngắn hạn, trái phiếu và cổ phiếu có thanh khoản cao càng lớn thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể dễ dàng vượt qua khó khăn.

  1. Các khoản phải thu

Bên cạnh tiền và tương đương tiền thì khoản phải thu cũng một mục quan trọng nhất khi đánh giá báo cáo tài chính.

http://1.bp.blogspot.com/--lm7f0wSnLY/VXm2ox3-fmI/AAAAAAAACG0/nYE9ra8qOLY/s1600/khoan-thu.jpg

Ảnh: internet

Hiểu đơn giản thì khoản phải thu là số tiền doạn nghiệp bán nợ cho khách hàng hoặc nhà phân phối. Khoản phải thu ngắn hạn và dài hạn qua các năm giảm dần thì là tốt (dấu hiệu cho rằng công ty không bị chiếm dụng vốn).

Trong một ngành nghề có tính cạnh tranh cao, để có thể giữ được vị thế (thị phần) bán hàng, nhiều doanh nghiệp thường có những chính sách chiết khấu cao hoặc chính sách thanh toán chậm cho những nhà phân phối, đại lý.

Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng (hoặc giữ) được doanh số, tuy nhiên các khoản phải thu cũng sẽ tăng lên tương ứng.

Do đó, bạn cần đánh giá sâu hơn về tỷ lệ các khoản phải thu/doanh thu của doanh nghiệp trong nhiều năm liền có ổn định không và có thấp hơn so với các doanh nghiệp khác trong ngành không. Theo Buffett thì tỷ lệ này của doanh nghiệp thấp hơn 30% là rất tốt, từ 30-50% thì nhà đầu tư có thể chấp nhận được. Tỷ lệ khoản phải thu càng cao so với doanh thu cho thấy rủi ro của doan nghiệp, bởi việc gia tăng doanh số bán hàng không đồng nghĩa với việc dòng tiền thu về tương ứng.

Nếu doanh nghiệp duy trì tỷ lệ này ổn định và thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong ngành, thì có thể doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh nhất định đối với khách hàng, hoặc đối với nhà phân phối và các đại lý.

Quan trọng: Mục tiêu của nhà đầu tư khi đánh giá không phải là chỉ nhìn vào các con số tuyệt đối mà chúng ta phải nhìn được xu hướng của các con số, các tỷ lệ trong 1 khoảng thời gian dài 3-10 năm và so sánh với xu hướng của các tỷ lệ tương tự ở các doanh nghiệp đối thủ trong ngành.

  1. Hàng tồn kho
https://blog.mypage.vn/wp-content/uploads/2017/05/hang-ton-kho.jpg

Ảnh: Internet

Khi đánh giá hàng tồn kho đối với những doanh nghiệp sản xuất, bạn nên chú ý đến những điểm chính sau:

  • Những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì sản phẩm của họ sẽ không cần phải thay đổi quá nhiều để chạy theo nhu cầu của khách hàng và vì thế sản phẩm sẽ rất khó trở nên lỗi thời.

Warren Buffett luôn đánh giá cao đặc điểm này, chẳng hạn như sản phẩm của Coca Cola là 1 ví dụ điển hình cho lựa chọn của Buffett.

  • Khi bạn muốn xác định những dấu hiệu của lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp sản xuất, bạn có thể đánh giá kỹ sự tăng trưởng đồng đều giữa hàng tồn kho và doanh thu.

Một doanh nghiệp luôn có 1 tỷ lệ khách hàng mới, đơn hàng mới ổn định thì sẽ có lượng hàng tồn kho và doanh thu tăng tương ứng với nhau.

  • Một doanh nghiệp có hàng tồn kho tăng giảm đột biến (hoặc thất thường) thường thể hiện sự không hiệu quả trong quản lý hàng tồn kho, hoặc hoạt động kinh doanh không thực sự hiệu quả.
  1. Tài sản cố định hữu hình

Warren Buffett từng nói rằng:

“Tôi thích những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững vì thế họ không tốn quá nhiều tiền đầu tư thêm tài sản nhưng vẫn có thể tạo ra được dòng tiền ổn định, đều đặn.”

Hay diễn đạt theo 1 cách khác, những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì Capex sử dụng để duy trì vị thế hiện tại sẽ không lớn.

Ngược lại, những doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh sẽ phải tốn chi phí nâng cấp nhà cửa thiết bị một cách liên tục.

Ngoài ra, một điểm khác biệt nữa giữa doanh nghiệp có và không có lợi thế cạnh tranh đó là, những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh có thể sử dụng dòng tiền hiện có để tài trợ cho việc mua mới tài sản cố định.

Nhiều doanh nghiệp không đủ tiền thì sẽ phải tài trợ nhiều bằng nợ vay, do đó, biên lợi nhuận sẽ thấp hơn và sức khỏe tài chính cũng kém hơn.

Do đó, đối với khoản mục này, bạn nên xem xét thêm tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ capex hàng năm so sánh với tăng trưởng doanh thu, và tỷ lệ capex được tài trợ bằng nợ vay.

Và tất nhiên, bạn cần đánh giá trong 1 khoảng thời gian đủ dài, tối thiểu là 5 năm, và so sánh với các doanh nghiệp đối thủ trong ngành để có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất.

theo Warren Buffett Financial Report

Ở bài viết này thì chúng ta đã hiểu sơ qua về cách Buffet tìm kiếm những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững để đầu tư. Trong phần này chúng ta hãy tập trung đi sâu về những vấn đề các nhà đầu tư cần chú ý khi đọc báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

http://bahiconsulting.com/wp-content/uploads/2018/03/Income-Statement-Vector-Converted-1.png

Ảnh: Nguồn BahiConsulting

Khi phân tích vào Báo cáo kết quả kinh doanh, điều quan trọng nhất là phải đào sâu vào trong từng khoản mục, từng thuyết minh để xác định chất lượng của lợi nhuận (quality of earnings) và những điều ẩn sau những con số. Nhà đầu tư nên nhớ: Buffett luôn ưu tiên sự ổn định qua các năm của các con số trong báo cáo tài chính.

  1. Biên lợi nhuận gộp

Biên lợi nhuận gộp = lợi nhuận gộp (= tổng doanh thu – giá vốn hàng bán)/tổng doanh thu (hay doanh thu thuần)

Biên lợi nhuận tăng đều qua các năm là dấu hiệu của một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh và bộ máy hoạt động kinh doanh hiệ quả.

Khi có biên lợi nhuận gộp cao thì doanh nghiệp có thể tăng giá mà không làm giảm cầu của khách hàng. Theo Buffett thì:

  • Nếu Biên lợi nhuận gộp càng cao càng tốt, nếu lớn hơn 30%, doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn.
  • Nếu Biên lợi nhuận gộp từ 20-30%, thì doanh nghiệp hoạt động tốt, chấp nhận được.
  • Nếu Biên lợi nhuận gộp nhỏ hơn 10%, khả năng cao doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh nào. Và sự cạnh tranh đến từ đối thủ khác có thể bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong nhiều ngành nghề, biên lợi nhuận gộp có thể là rất nhỏ, khi đó, bạn hãy luôn nhớ rằng ổn định của biên lợi nhuận và biên lợi nhuận cao nhất trong ngành là một yếu tố mà bạn cần tìm ở doanh nghiệp.

  1. Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp

Buffett ưa thích sự ổn định của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong nhiều năm.

Một doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh sẽ có các chi phí này biến động rất nhiều hàng năm so với lợi nhuận gộp.

  • Nếu tỷ lệ chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp / lợi nhuận gộp nhỏ hơn 30%, thì đây là một doanh nghiệp tuyệt vời với khả năng quản lý chi phí tốt.
  • Nếu tỷ lệ này cao hơn 70%, doanh nghiệp đang kinh doanh trong 1 ngành nghề rất cạnh tranh và gần như không có 1 lợi thế cạnh tranh gì đặc biệt.
  • Một yếu tố cần để ý là, các DN nào có tỷ số chi phí này thấp dần, phần lớn đều có khả năng tăng giá bán trong ngành nghề hoạt động mà ít phụ thuộc vào việc đẩy mạnh chi phí bán hàng.
  1. Chi phí nghiên cứu phát triển (R&D)

    https://www.kirkrice.co.uk/wp-content/uploads/2017/06/R-D-process-2.jpg

    Ảnh: nguồn KirKrice

Trong báo cáo tài chính tại Việt Nam, chi phí R&D không được tách thành 1 khoản mục riêng. Nhưng có nhiều công ty niêm yết ở Mỹ có công bố chi phí R&D trong báo cáo kết quả kinh doanh.

Nếu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ những bằng sáng chế hoặc lợi thế từ 1 công nghệ mới (như các doanh nghiệp liên quan tới công nghệ), đến 1 thời điểm nào đó lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ không còn nữa vì những phát minh sáng chế, hay công nghệ đó khi hết quyền bảo vệ trí tuệ thì sẽ bị sao chép rất nhanh.

Buffet thường đánh giá cao những doanh nghiệp có tỷ lệ R&D/doanh thu ở mức thấp tương đối so với các doanh nghiệp trong ngành nhưng luôn được duy trì ổn định.

  1. Chi phí khấu hao

Một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững thường có tỷ lệ khấu hao/lợi nhuận gộp thấp trong ngành.

  1. Chi phí lãi vay

Một doanh nghiệp có tỷ lệ lãi vay cao khi so sánh với lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính (operating income, hay EBIT) thì sẽ có 2 tình huống:

  • Doanh nghiệp ở trong 1 ngành nghề có sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (Capex) rất lớn hàng năm để duy trì vị thế cạnh tranh
  • Doanh nghiệp có tình trạng kinh doanh rất tốt và đang sử dụng đòn bẩy nợ vay cho hoạt động thâu tóm mua lại.
https://cafebiz.cafebizcdn.vn/thumb_w/600/2015/squeezed-debt-1442822475852-1442915158846.jpg

Ảnh: Nguồn cafebiz

Đối với Warren Buffett, một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thường có rất ít, hoặc không có lãi vay. Với Buffett thì nếu tỉ lệ chi phí lãi vay/lợi nhuận gộp càng thấp càng tốt, nếu tỉ lệ này dưới 10% thì là rất tốt.

Mặc dù lãi vay phải trả của từng doanh nghiệp sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng ngành nghề, tuy nhiên, trong bất kỳ ngành nghề nào, một doanh nghiệp có tỷ lệ lãi vay/EBIT thấp nhất thì luôn là 1 doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhất định.

  1. Lợi nhuận ròng

Bạn cần phải đánh giá xu hướng ổn định và tăng trưởng đều đặn, đồng nhất của doanh nghiệp qua từng năm. Buffett cũng khuyên chúng ta nên loại bỏ thu nhập, chi phí từ hoạt động khác, lợi nhuận bất thường khi tính toán lợi nhuận ròng. Vì những khoản này không thể hiện gì về chất lượng của hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp.

http://1.bp.blogspot.com/-aXYRI93w9KQ/VRe5yXGk3bI/AAAAAAAADwI/B0uJiO53XAc/s1600/profit1.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Buffet ưa thích các doanh nghiệp có lợi nhuận ròng có tốc độ tăng trưởng qua các năm, và các năm gần đây lợi nhuận không âm.

Ngoài ra, bạn cần chú ý xu hướng lợi nhuận ròng khác với xu hướng EPS vì doanh nghiệp có thể pha loãng cổ phiếu hoặc mua lại cổ phiếu quỹ. Và tất nhiên, xu hướng EPS được ưu tiên hơn xu hướng lợi nhuận ròng. Buffett cũng thích các doanh nghiệp có EPS tăng đều qua các năm.

Nếu doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận ròng/doanh thu (ROS) duy trì ở mức cao trên 20% trong nhiều năm thì đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy doanh nghiệp đang được hưởng lợi từ 1 lợi thế cạnh tranh dài hạn nào đó.

Nếu tỷ lệ này thấp hơn 10% thì khả năng cao doanh nghiệp đang trong ngành có tính cạnh tranh khá cao.

Sau bài này, mong các bạn đã hiểu được 1 trong nhưng cách đọc báo cáo kết quả kinh doanh của nhà đầu tư giá trị nổi tiếng Warren Buffett. Ở phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu tiếp về cách đọc bảng cân đối kế toán của Buffett nhé.

theo Warren Buffett Financial Report  

More Articles ...

Tin tức , tư vấn đầu tư chứng khoán

Phương pháp đầu tư tăng trưởng , giá trị , bền vững

Công cụ , dữ liệu nghiên cứu đầu tư theo phương pháp tăng trưởng và giá trị