Hướng dẫn đầy đủ nhất về đầu tư giá trị tại thị trường Việt Nam

đầu tư giá trị

Đây là bộ hướng dẫn đầy đủ nhất về chiến lược đầu tư giá trị mà bạn có thể tìm thấy ở Việt Nam.

Điều quan trọng là gì?

Chiến lược này đã được kiểm chứng thành công trên thị trường Việt Nam.

Vì thế nếu bạn muốn kiếm tiền từ chứng khoán hay chỉ đơn giản là thử nghiệm một chiến lược đầu tư hiệu quả… chắc chắn bạn sẽ thích bài viết này.

Dưới đây là những bước chính bạn cần thực hiện khi đầu tư giá trị

  • Bước #1: Phân biệt đầu tư và đầu cơ
  • Bước #2: Phân biệt giá và giá trị
  • Bước #3: Phân biệt giá trị nội tại, giá trị sổ sách và giá trị thị trường
  • Bước #4: Hiểu rõ bản chất của đầu tư giá trị
  • Bước #5: Tìm kiếm cổ phiếu đầu tư giá trị
  • Bước #6: Tìm hiểu về doanh nghiệp
  • Bước #7: Định giá cổ phiếu

Tại sao lại là đầu tư giá trị?

Đây là chiến lược mà Warren Buffett đã áp dụng thành công hơn 50 năm qua với tỷ suất sinh lợi kép 20.9%/năm… vượt trội so với mức 9.9%/năm của chỉ số S&P 500.

warren buffett đầu tư giá trị

Vấn đề là mấy ai làm được như Warren Buffett và liệu chiến lược này có phù hợp với thị trường Việt Nam?

CÓ!

Với hơn 10 năm áp dụng đầu tư giá trị ở thị trường Việt Nam tôi có thể khẳng định với bạn như vậy.

Dưới đây là kết quả đầu tư mà tôi đã áp dụng…

cổ phiếu tốt govalue

…mức tăng +371% gấp hơn 4 lần mức tăng của VN-Index.

Điều này có ý nghĩa gì?

Mặc dù không bao giờ so sánh được với Buffett nhưng bạn có thể chắc chắn rằng…

Bạn hoàn toàn có thể áp dụng thành công chiến lược đầu tư giá trị vào thị trường Việt Nam

Bạn không cần phải là những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính.

Bạn chỉ cần biết những cách thức mà tôi hướng dẫn trong bài viết này.

Bạn càng hiểu và luyện tập càng nhiều, bạn sẽ càng thành công trong đầu tư.

—————————–

Đầu tư giá trị khác với đầu cơ như thế nào?

Những người không có thiện cảm với đầu tư cổ phiếu thường nói rằng: “Chứng khoán là bài bạc. Thị trường chứng khoán chính là 1 sòng bạc”.

SAI HOÀN TOÀN!

Đầu cơ – đánh bạc

Khi bạn vào 1 sòng bạc ở LasVegas và chơi 1 game ở đó, bạn sẽ không bao giờ kiểm soát được tỷ lệ thắng thua (win-loss) của mình trong 1 khoảng thời gian dài. Hay nói đúng hơn là bạn sẽ không bao giờ chiến thắng được ở LasVegas. Những sòng bài được tạo ra không phải để bạn kiếm tiền.

Dau-tu-gia-tri-khac-dau-co-nhu-the-nao

Tại sao?

Tỷ lệ thắng của bạn rất thấp, không tương xứng với những rủi ro mà bạn phải chấp nhận.

Tuy nhiên…

Trong thị trường chứng khoán, hoạt động đầu cơ là cần thiết và là một phần không thể thiếu. Hoạt động đầu cơ giúp cho cổ phiếu có thanh khoản, có người mua và người bán.

Những nhà tạo lập thị trường (Market Makers) hay đội lái là những người dẫn dắt hoạt động này. Đó là công ty chứng khoán, quỹ đầu tư hay những nhóm đầu tư có số vốn lớn… tất cả đều có mối quan hệ với doanh nghiệp.

Chỉ có điều… bạn không thể chiến thắng trong cuộc chơi của họ!

Đầu tư

Hoạt động đầu tư là khi bạn bỏ tiền với mục đích thu lại trong tương lai dựa trên:

  • Đặc tính của TÀI SẢN và
  • Giá trị của TÀI SẢN

Tài sản ở đây có thể là cổ phiếu, trái phiếu, vàng, hàng hóa hay bất động sản. Trong trường hợp này là cổ phiếu.

Vậy muốn đầu tư kiếm tiền thì bạn phải làm gì?

Hãy quan tâm đến giá trị tài sản (Value) thay vì giá (Price) của nó.

Theo quan điểm của Warren Buffett:

Cách thực sự đơn giản để phân biệt đầu tư với đầu cơ là kiểm tra xem bạn có quan tâm ngày mai thị trường có mở cửa hay không?

Khi tôi mua một cổ phiếu, tôi sẽ không bận tâm đến họ có đóng cửa thị trường chứng khoán trong một vài năm nữa hay không. Tôi quan tâm đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Liệu doanh nghiệp ấy có mang lại lợi suất như mình kỳ vọng trong tương lai hay không.

—– Warren Buffett —–

Tài sản mà Buffett thực sự nhắc đến chính là doanh nghiệp.

Khi đầu tư cổ phiếu, bạn cần đặt sự tập trung chính của mình vào doanh nghiệp. Xác định chất lượng doanh nghiệp, đánh giá lợi thế cạnh tranh, ban lãnh đạo. Xác định giá trị thực sự của doanh nghiệp.

Kết luận?

Nếu quan tâm đến thị trường, tôi là người đầu cơ vì tôi sẽ quan tâm xem giá cổ phiếu lên hay xuống trong phiên ngày mai. Mà thực tế thì bạn không thể biết chính xác giá có tăng hay không.

—– Warren Buffett —–

Đầu cơ là khi bạn tập trung nhiều hơn vào diễn biến giá, chỉ chú ý đến biến động giá hàng ngày. Hay chỉ chú ý vào những yếu tố ngắn hạn như kết quả kinh doanh quý, việc tăng/giảm tỷ lệ chi trả cổ tức mà… không quan tâm đến tổng thể toàn bộ tài sản hay khả năng sinh lợi dài hạn của công ty.

Market Maker hay đội lái hoàn toàn có thể tác động đến các yếu tố ngắn hạn nói trên nhưng không thể tác động đến giá trị thực của doanh nghiệp.

Nếu bạn thực sự đầu tư (không đầu cơ) thì bạn sẽ dễ dàng đánh bại được họ và kiếm tiền chính từ những sai lệch từ giá thị trường so với giá trị thực của doanh nghiệp.

—————————–

Phân biệt Giá và Giá trị?

Giá của một loại hàng hóa (cổ phiếu) luôn được quyết định bởi quy luật cung – cầu trên thị trường.

Nếu lượng cầu vượt quá lượng cung trong ngắn hạn thì giá của tài sản đó sẽ tăng lên và đôi khi vượt quá giá trị của tài sản trong dài hạn. Thậm chí, nếu có quá nhiều hoạt động đầu cơ, giá tài sản có thể tăng “phi mã” dẫn đến tình trạng bong bóng.

Phan-biet-gia-va-gia-tri

Ngược lại, khi người mua giảm dần hay ngừng mua, giá tài sản lại giảm mạnh. Thông thường, lại giảm thấp hơn giá trị của tài sản trong dài hạn.

Giá được quyết định nhờ “bỏ phiếu”

Giá cổ phiếu hàng ngày được quyết định bởi cung – cầu của người mua và người bán trên thị trường và…

…rất ít khi phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu (hay giá trị thực của doanh nghiệp).

Theo quan điểm của Buffett, trong ngắn hạn thị trường giống như 1 cỗ máy “bỏ phiếu”. Đây là nơi mà 1 nhóm nhỏ những cổ đông “biểu quyết” về giá của cả 1 doanh nghiệp.

Ví dụ với CTCP Bia Sabeco (SAB):

đầu tư giá trị sabeco

Tổng số lượng cổ phiếu của tất cả cổ đông (chủ sở hữu) là 641 triệu cổ phiếu.

Trong khi đó bình quân khối lượng giao dịch trong ngắn hạn chỉ có 42.530 cổ phiếu, tương đương 0.006% số lượng cổ phiếu lưu hành.

Điều này có nghĩa là gì?

Chỉ có chưa đầy 0.01% số cổ đông “bỏ phiếu” với nhau để xác định giá giao dịch của SAB trong ngắn hạn. Và chắc chắn không thể nào phản ánh đúng giá trị của 1 doanh nghiệp đầu ngành có vốn hóa hơn 150.000 tỷ.

Giá trị doanh nghiệp là thứ bạn cần tìm kiếm

Bạn – với tư cách là nhà đầu tư – cần phải có tư duy như những chủ doanh nghiệp thực sự. Vì với việc sở hữu cổ phiếu, là cổ đông, bạn chính là chủ của doanh nghiệp.

Khi đó, bạn cần hiểu rõ về giá trị mà doanh nghiệp mình đang sở hữu.

Giá trị của doanh nghiệp thường được cấu thành từ 2 phần chính:

  • Tài sản
  • Dòng tiền, lợi nhuận trong tương lai

Bạn cần chú ý rằng tài sản ở đây không chỉ đơn giản là những thứ hữu hình như nhà xưởng, máy móc, thiết bị… mà còn bao gồm cả những tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, nhân sự, lợi thế cạnh tranh…

—————————–

Phân biệt giá trị nội tại, giá trị sổ sách và giá trị thị trường?

Đây là 3 khái niệm thường được sử dụng trong đầu tư mà bạn không bao giờ được phép nhầm lẫn.

Đầu tiên là giá trị thị trường…

Giá trị thị trường là giá trị do thị trường (hay sàn giao dịch) xác định cho cổ phiếu. Thực tế, đây chính là giá của cổ phiếu được bán trên sàn giao dịch. Vì thế, giá và giá trị thị trường là như nhau.

Giá trị sổ sách (Book value) là gì?

Giá trị sổ sách là giá trị được ghi nhận theo sổ sách kế toán hay báo cáo tài chính. Giá trị sổ sách được tính bằng phần tài sản ròng còn lại sau khi trừ đi các khoản nợ phải trả (bao gồm nợ vay).

Trên thực tế, giá trị ghi sổ không phản ánh hết toàn bộ giá trị của doanh nghiệp.

Ví dụ:

Công ty A mua và sở hữu 1 lô đất ở Quận 1 với giá mua ghi sổ là 100 tỷ vào năm 2005. Trên sổ sách, giá trị quyền sử dụng đất được ghi nhận chỉ là 100 tỷ.

Trong khi đó, vào thời điểm năm 2018 giá đất ở Quận 1 đã tăng hơn 10 lần. Do đó, giá trị thực tế của lô đất hiện tại đã là hơn 1.000 tỷ. Tuy nhiên, giá trị sổ sách của công ty A không thể hiện điều này.

Giá trị nội tại

Giá trị nội tại là giá trị của toàn bộ doanh nghiệp mà tôi nhắc đến ở bước #2.

Đây là giá trị mà chúng ta cần quan tâm nhất trong đầu tư.

Giá trị nội tại phản ánh tất cả…

  • Giá trị tài sản hữu hình
  • Giá trị tài sản vô hình
  • Những lợi ích kinh tế trong tương lai như lợi nhuận, dòng tiền, cổ tức…

Nhiệm vụ của bạn là gì?

Bạn cần tìm ra những doanh nghiệp đang có bị “bỏ phiếu” sai… dẫn đến có sự chênh lệch giữa giá và giá trị nội tại. Mua một công ty tuyệt vời, chẳng hạn như Thế giới di động (MWG) có giá trị nội tại 100.000đ/cổ phiếu ở mức giá 70.000đ/cổ phiếu là 1 ví dụ…

Đó chính là đầu tư!

Điểm khác so với đầu cơ là gì?

Người đầu cơ không cần biết giá trị nội tại của MWG là 100.000đ/cổ phiếu. Họ có thể chấp nhận mua ở mức giá 110.000đ/cổ phiếu nếu thấy xu hướng đám đông vẫn còn nhiều nhu cầu… và kỳ vọng mức giá có thể đẩy lên 120.000 – 130.000đ/cổ phiếu để bán ra.

Nếu bạn chưa biết rõ giá trị nội tại của một cổ phiếu/doanh nghiệp nhưng vẫn bỏ tiền ra mua nó thì…

…100% bạn đang đầu cơ, không phải đầu tư.

Đừng nhầm lẫn!

Biên an toàn là gì?

Có một câu nói rất kinh điển của Warren Buffett về đầu tư:

Điều đầu tiên, đừng bao giờ để mất tiền. Điều thứ hai, không bao giờ quên điều thứ nhất

Vậy làm thế nào để không bị mất tiền?

Rất đơn giản! Bạn chỉ cần tìm cho mình một khoản “bảo hiểm” cho số vốn đầu tư của mình.

Warren Buffett và Benjamin Graham gọi nó là biên an toàn.

Biên an toàn là mức chênh lệch (chiết khấu) giữa giá trị nội tại của cổ phiếu so với giá thị trường. Ví dụ:

Nếu giá trị nội tại của cổ phiếu là 50.000đ còn giá thị trường là 35.000đ/cổ phiếu thì biên an toàn trong trường hợp này là 30%, tính bằng (1 – 35/50).

—————————–

BONUS: Đầu tư giá trị có phù hợp với bạn?

Chiến thắng chỉ dành cho phần nhỏ những nhà đầu tư thông minh.

Hầu hết mọi người thường nghĩ rằng đầu tư giá trị là 1 thứ gì đó cao siêu mà chỉ có những nhà đầu tư vĩ đại như Warren Buffett mới có thể làm được.

Điều này hoàn toàn sai lầm…

Thậm chí phương pháp này lại rất dễ áp dụng với những thị trường mới phát triển như Việt Nam.

Tôi tin rằng, cũng như tôi, đầu tư giá trị là chiến lược DÀNH CHO BẠN.

Bởi vì:

  • Bạn cũng muốn được tự do tài chính
  • Bạn muốn được ngủ ngon kể cả khi thị trường đang giảm
  • Bạn vẫn phải làm công việc của mình và không có nhiều thời gian theo dõi thị trường và cổ phiếu hàng ngày
  • Bạn không có nhiều kiến thức về tài chính

Tuân thủ chiến lược đầu tư giá trị sẽ giúp bạn “đứng ngoài” những biến động về giá hàng ngày. Khi đó, sự quan tâm của bạn chỉ còn về việc kinh doanh của doanh nghiệp và bạn không cần phải là 1 chuyên gia tài chính thì mới hiểu được.

Dưới đây là ví dụ về đầu tư giá trị mà GoValue đã áp dụng từ năm 2012 đến nay:

Điều cuối cùng còn lại là gì?

Đó là…

Bạn có đủ kiên trì và kỷ luật để tuân thủ và xem đầu tư giá trị như 1 chiến lược kiếm tiền nghiêm túc hay không.

—————————–

Bản chất của đầu tư giá trị

Đầu tư giá trị rất đơn giản…

Ai mà lại không muốn mua hàng với giá rẻ?

Mẹ chúng ta vẫn thích trả giá mỗi khi đi chợ.

Chúng ta vẫn thích mua hàng mỗi khi món hàng chúng ta thích giảm giá 30 – 50%, giống như Black Friday.

Ban-chat-cua-dau-tu-gia-tri

Đầu tư giá trị trong chứng khoán hoàn toàn tương tự như thế.

Đó là khi 1 cổ phiếu hay doanh nghiệp tuyệt vời mà bạn yêu thích được bán giảm giá sale-off 30%, thậm chí là 50%.

Do đó, đầu tư giá trị chỉ tóm gọn trong 2 bước đơn giản:

  • Bước 1: Tìm 1 doanh nghiệp tuyệt vời mà bạn yêu thích
  • Bước 2: Mua nó khi giá của nó khi giá thấp hơn giá trị thực với 1 biên an toàn đủ lớn

…nhưng không dễ dàng…

Tại sao?

Bạn sẽ phải vượt qua được tất cả những cảm xúc thông thường và tách mình ra khỏi đám đông.

Hầu hết chúng ta đều cảm thấy an toàn hơn khi những người xung quanh đồng tình và hành động giống nhau.

Đối với đầu tư chứng khoán, khi một ngành nghề tăng trưởng nhanh và hầu hết nhà đầu tư đổ xô vào mua bạn sẽ rất dễ bị tác động tâm lý và vướng vào 1 hội chứng gọi là FOMO (Fear Of Missing Out)…

…hay Hội chứng “sợ bị bỏ lại phía sau”:

“Bạn bè, đồng nghiệp đang kiếm được tiền từ cổ phiếu X còn mình thì không”

Không vượt qua được bẫy tâm lý chính là khó khăn lớn nhất mà bạn phải đối mặt khi đầu tư chứng khoán.

Thị trường sẽ luôn cám dỗ bạn, kéo bạn vượt qua ranh giới giữa đầu tư và đánh bạc mà bạn không hay biết.

Vậy bạn phải làm thế nào?

Không có cách nào khác! Bạn phải tuân thủ đúng từng bước khi đầu tư giá trị.

Cụ thể:

Tìm 1 công ty tuyệt vời và mua nó với giá sale off (tối thiểu 30%).

Những công ty tuyệt vời cũng có những giai đoạn gặp khó khăn (tin xấu) và đó chính là lúc giá cổ phiếu của nó bị sale off.

Bạn cần phải có tâm lý vững vàng và nhìn nhận doanh nghiệp với sự hiểu biết và khách quan cần thiết thì mới có thể nhìn thấy được những cơ hội đó.

—————————–

Tìm cổ phiếu đầu tư giá trị

Hiện tại trên sàn chứng khoán Việt Nam có hơn 1200 cổ phiếu đang giao dịch.

Vậy làm thế nào để bạn chọn ra được 1 vài ý tưởng để bắt đầu tìm hiểu?

Thực tế là những công thức, bộ lọc cổ phiếu đã được những nhà đầu tư vĩ đại trên thế giới xây dựng và việc của bạn là…

…Áp dụng nó.

Ở bước đầu tiên này bạn chưa cần quan tâm về giá trị của 1 doanh nghiệp. Thay vào đó, việc của bạn là tìm ra những cổ phiếu tuyệt vời mà bạn sẽ yêu thích.

Dưới đây là một số cách đơn giản mà bạn có thể áp dụng.

Trong đó, cách thứ 3 là cách mà tôi vẫn áp dụng hàng ngày, hàng tuần.

Cách 1: Những công ty có sản phẩm mà bạn yêu thích

Con gái lớn của tôi rất thích ăn kem Celano và uống sữa đậu nành Fami. Hắn ta uống Fami mỗi buổi sáng và ăn 1 cây kem Calano mỗi buổi chiều.

Chắc hẳn bạn cũng biết 2 sản phẩm này chứ?

Hai công ty sở hữu 2 nhãn hàng này là CTCP Đường Quảng Ngãi (QNS) với Fami và CTCP Kido (KDC) với Celano.

Cả 2 đều đang niêm yết trên sàn chứng khoán.

Tôi có một bệnh nghề nghiệp là…

…thích xem nhãn mác sản phẩm mỗi khi mua một món đồ mới trong siêu thị. Đơn giản chỉ là tôi muốn biết xem nhãn hàng đó được công ty nào sản xuất. Tôi thích nó, mua nó thì cũng sẽ có rất nhiều người khác như thế.

Bạn hãy thử dạo 1 vòng siêu thị hoặc nhìn quanh những con đường mà bạn đi làm.

Hãy thử ngẫm lại những sản phẩm hay nhãn hàng mà bạn yêu thích và đặt câu hỏi:

Công ty nào sản xuất ra những nhãn hàng, sản phẩm hay dịch vụ mà bạn yêu thích

Điều này sẽ giúp bạn như thế nào?

Không ai khác… chính bạn là người đã sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty đó. Bạn có góc nhìn đánh giá tốt nhất từ góc độ người tiêu dùng.

Nếu bạn thích 1 sản phẩm dịch vụ nào thì đó chính là dấu hiệu ban đầu cho một công ty tuyệt vời.

Easy!?

Cách 2: Đọc những tin tức… TIÊU CỰC

Nghe có vẻ ngược đời nhỉ?

Có một thực tế là…

Nếu bạn chú ý đến những tin tức tiêu cực về doanh nghiệp thì khả năng bạn tìm thấy những cơ hội đầu tư tuyệt vời sẽ cao hơn rất nhiều.

Hãy sợ hãi khi người khác tham lam và hãy tham lam khi người khác sợ hãi

— Warren Buffett —

Bởi vì:

  • Media chỉ đơn giản là những công cụ truyền thông giúp MMs hay nhà cái. Bản thân những người viết những bài báo nhận định về doanh nghiệp chỉ viết theo những báo cáo, số liệu bề nổi mà họ được nhận. Họ không nhìn nhận doanh nghiệp dưới góc độ đầu tư.
  • Những tin tức tiêu cực sẽ làm giá cổ phiếu của những công ty tuyệt vời giảm rất “sâu” so với giá trị thực của nó.
  • Những tin tức tốt chỉ dành cho đám đông. Khi những tin tốt được tung ra thì MMs hay nhà cái đã gom xong “hàng” từ lâu. Và khi thông tin quá rõ ràng thì cơ hội dành cho bạn rất ít.

Bạn có còn nhớ nhiệm vụ của mình?

Đó là:

Bạn phải đứng tách ra khỏi đám đông về mặt tư duy và cảm xúc của mình.

Cách 3: Sử dụng những bộ lọc cổ phiếu được xây dựng sẵn

Quan điểm của tôi và tôi cũng thường nói với đội nhóm của mình:

Nếu bạn muốn học hỏi 1 điều gì đó thì hãy học hỏi từ những người giỏi nhất

Trong gần 10 năm qua, tôi đã thử nghiệm hơn 60 chiến lược đầu tư và không phải chiến lược nào cũng phù hợp ở thị trường Việt Nam.

Nếu bạn vẫn đang mông lung và chưa xây dựng được cho mình 1 bộ lọc cổ phiếu phù hợp thì tôi khuyên bạn nên lựa chọn 1 (hoặc kết hợp) trong số những bộ lọc cổ phiếu dưới đây:

  • Bộ lọc theo triết lý của Warren Buffett
  • Bộ lọc theo triết lý của Benjamin Graham
  • Bộ lọc theo triết lý của Philip Fisher
  • Bộ lọc theo triết lý của Peter Lynch
  • Bộ lọc theo triết lý của Piotroski
  • Bộ lọc theo GoValue

Bộ lọc theo GoValue về bản chất là 1 bảng xếp hạng. Bảng xếp hạng này giúp bạn có 1 góc nhìn toàn cảnh về chất lượng và định giá của tất cả các cổ phiếu trên thị trường Việt Nam.

Các tiêu chí xếp hạng được tổng hợp từ triết lý của cả 5 nhà đầu tư vĩ đại nói trên.

Hãy tham khảo bài viết của tôi về 6 bộ lọc cổ phiếu nói trên để hiểu được chi tiết từng chỉ tiêu.

CHÚ Ý!

Khác với những bộ lọc cổ phiếu theo phân tích kỹ thuật, chỉ cần các dữ liệu giá và khối lượng giao dịch (dữ liệu này được cung cấp miễn phí).

Đối với những bộ lọc nói trên, bạn cần phải có 1 cơ sở dữ liệu tài chính của toàn bộ các doanh nghiệp trên thị trường và trong khu vực các nước châu Á.

Tuy nhiên, nếu bạn không có đủ dữ liệu để xây dựng bộ lọc thì có thể tải các kết quả bộc lọc tại đây.

Tất cả đều đã được GoValue đã chọn lọc sẵn.

—————————–

Tìm hiểu về doanh nghiệp

Hầu hết nhà đầu tư cá nhân đều ra quyết định mua bán cổ phiếu quá nhanh và vội vàng.

Dựa nhiều vào cảm xúc là điều tối kị trong đầu tư.

Thế nhưng chúng ta vẫn thường phản ứng 1 cách thái quá đối với những tin tức trên media… Dù đó là tin tức tiêu cực hay tích cực.

Làm thế nào để kiểm soát được cảm xúc trong đầu tư?

Ở GoValue, tôi thường sử dụng 1 danh sách (checklist) những tiêu chí cần đánh giá trước khi mua hoặc bán cổ phiếu.

Tim-hieu-ve-doanh-nghiep

Danh sách này giúp cho tôi:

  • Xây dựng nguyên tắc rất rõ ràng trong việc mua/bán
  • Kiên nhẫn và sáng suốt trong từng quyết định
  • Tự tin và giữ vững niềm tin trong những trường hợp đi ngược lại đám đông

Bạn hãy suy ngẫm lại xem cách thức để không thua lỗ khi đầu tư là gì?

  • Đầu tiên, bạn cần mua đúng cổ phiếu tốt ở mức giá hợp lý
  • Cuối cùng, bạn cần bán cổ phiếu ở thời điểm phù hợp

Chỉ với 2 bước đơn giản và quan trọng.

Nhưng nếu bạn vội vàng sai ở 1 trong 2 bước thì kết quả sẽ rất “tệ hại”.

Vì thế với mỗi bước này bạn cần rà soát lại tất cả các vấn đề để đảm bảo mình không mắc sai lầm như đám đông.

Những tiêu chí cần tìm hiểu về doanh nghiệp

Dưới đây là danh sách tóm tắt những tiêu chí nói trên.

Những tiêu chí này được tôi chọn lọc dựa trên triết lý của 2 nhà đầu tư vĩ đại Warren Buffett và Peter Lynch.

Nguồn thông tin mà bạn có thể sử dụng để tìm kiếm

  • Website công ty
  • Báo cáo thường niên
  • Báo cáo tài chính
  • Báo cáo nghiên cứu ngành
  • Báo cáo phân tích cổ phiếu của công ty chứng khoán
  • Tin tức công ty trên Cafef

Bản chất doanh nghiệp

  • Mô hình kinh doanh của công ty có dễ hiểu không? Bạn có dễ dàng nắm bắt được không? Sản phẩm của công ty là gì? Công ty tạo ra doanh thu như thế nào? Công ty làm marketing như thế nào?
  • Triển vọng tương lai của ngành/lĩnh vực mà công ty đang kinh doanh như thế nào? Công ty đang ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh doanh?
  • Công ty có lợi thế cạnh tranh trong ngành như thế nào? Vòng “phòng vệ” (moat) của công ty là gì? Vòng phòng vệ này có “đủ khó” để đối thủ cạnh tranh không giành được thị phần không?
  • Công ty có hoạt động trong một lĩnh vực “không hot” không? Ngược lại, công ty có hoạt động trong 1 lĩnh vực đang “hot” không?
  • Công ty có chiếm lĩnh thị phần ở 1 phân khúc hoặc 1 khu vực nào đó không?

Khả năng sinh lợi của công ty

  • Tốc độ tăng trưởng của công ty trong 5 năm gần nhất? Trong 10 năm gần nhất?
  • Công ty sử dụng lợi nhuận chưa phân phối có hiệu quả không?
  • Lợi nhuận còn lại của cổ đông (owner earnings) có tăng trưởng ổn định trong 10 năm gần nhất không?
  • Tốc độ tăng trưởng gần đây của công ty so với tốc độ tăng trưởng dài hạn như thế nào?
  • Công ty có lợi nhuận từ những khoản thu bất thường không?
  • Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty có tăng trưởng ổn định không?
  • Kết quả kinh doanh của công ty như thế nào trong những giai đoạn suy thoái trước đây?
  • Có sản phẩm, dịch vụ nào của công ty mà bạn thích không? Tỷ trọng sản phẩm đó trong doanh thu là bao nhiêu?
  • Công ty có bị phụ thuộc vào 1 vài khách hàng, đối tác lớn không?

Nợ của công ty

  • Cơ cấu nợ ngắn hạn và dài hạn của công ty có trong khả năng kiểm soát không?
  • Công ty có kế hoạch đầu tư lớn nào trong tương lai không? Nợ vay cần bổ sung thêm là bao nhiêu?
  • Chi phí lãi vay của công ty hàng năm có nhiều không? (Bạn sẽ cần tìm những công ty có rất ít hoặc không có chi phí lãi vay).
  • Công ty có cổ phiếu ưu đãi không?

Vốn chủ sở hữu

  • Tỷ lệ ROE của công ty trong 10 năm gần nhất có xu hướng tăng không?
  • Công ty có vốn chủ sở hữu nhiều hơn vốn vay dài hạn không?

Biên lợi nhuận 

  • Biên lợi nhuận gộp của công ty trong 10 năm qua có xu hướng tăng ổn định? Hoặc ít nhất là duy trì ở mức trung bình dài hạn?
  • Biên lợi nhuận sau thuế của công ty trong 10 năm qua có xu hướng tăng ổn định? Hoặc ít nhất là duy trì ở mức trung bình dài hạn?

Đầu tư và sử dụng vốn

  • Tỷ lệ ROA của công ty trong 10 năm gần nhất có xu hướng tăng hoặc ít nhất duy trì ổn định ở mức trung bình không?
  • Tỷ lệ ROIC (Return on Invested Capital) của công ty có duy trì ổn định trong 10 năm qua không?
  • Công ty có phải đầu tư lớn cho xây dựng cơ bản (Capital Expenditures) trong nhiều năm liền để duy trì vị thế cạnh tranh không?
  • Chiến lược đầu tư của công ty có hợp lý không? Công ty có tập trung đầu tư cho hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình không?
  • Công ty có đầu tư cho hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) không?

Vấn đề Quản trị

  • Ban lãnh đạo có kế hoạch gì để tăng trưởng?
  • Công ty có những giao dịch lớn với bên thứ 3 có liên quan, thành viên gia đình của Ban lãnh đạo không?
  • Công ty có trình bày đầy đủ chi tiết các khoản mục trong thuyết minh báo cáo tài chính không?
  • Công ty có cập nhật báo cáo hoạt động kinh doanh hàng tháng trên website không?
  • Ban lãnh đạo có khách quan và thẳng thắn với hiệu quả kinh doanh thể hiện trên các báo cáo và thông cáo báo chí không?
  • Công ty có từng điều chỉnh lớn số liệu sau khi đã công bố báo cáo tài chính không?
  • Ban lãnh đạo có trung thực và thẳng thắn trong Đại hội cổ đông không?
  • Ban lãnh đạo có thực hiện đúng những lời hứa trong 10 năm gần nhất không?

Cổ tức tiền mặt

  • Công ty có duy trì cổ tức tiền mặt đều đặn và phù hợp với tăng trưởng lợi nhuận (EPS) hàng năm không?
  • Tỷ lệ chi trả cổ tức hàng năm có duy trì ổn định không? Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng hay giảm? Tương quan với xu hướng của tỷ lệ ROE như thế nào?

Tài sản của công ty

  • Công ty có những tài sản vô hình nào chưa được đám đông nhìn nhận không? Ví dụ: quyền sử dụng đất, các khoản đầu tư chưa được định giá lại…
  • Công ty có tỷ lệ các khoản phải thu so với tổng tài sản có thấp không?
  • Hàng tồn kho của công ty được cấu thành từ đâu? Chi phí yếu tố đầu vào của công ty có xu hướng như thế nào trong tương lai?

Mua lại cổ phiếu và phát hành cổ phiếu

  • Công ty có thường xuyên mua lại cổ phiếu quỹ không?
  • Công ty có thường xuyên phát hành thêm cổ phiếu không? Bao gồm cả cổ phiếu ESOP? Tỷ lệ phát hành là bao nhiêu? Đây là yếu tố tiêu cực mà bạn cần đặc biệt chú ý.

Giao dịch nội bộ

  • Ban lãnh đạo và những người có liên quan có những giao dịch gì gần đây?
  • Tỷ trọng những giao dịch này so với số lượng cổ phiếu đang niêm yết có lớn không?

Nhà đầu tư tổ chức

  • Công ty có được nhiều công ty chứng khoán quan tâm không?
  • Công ty có nhiều cổ đông tổ chức là các quỹ đầu tư (đặc biệt là các quỹ nước ngoài) không?
  • Tỷ lệ sở hữu của những cổ đông tổ chức là các quỹ đầu tư có lớn không?

Lạm phát và chu kỳ kinh tế

  • Công ty có khả năng tăng giá sản phẩm dịch vụ khi lạm phát tăng không?
  • Doanh thu của công ty có mối quan hệ phụ thuộc như thế nào với chu kỳ kinh tế?
  • Ban lãnh đạo công ty đang có những chiến lược, kế hoạch gì để đưa công ty vào 1 chu kỳ tăng trưởng mới?

—————————–

Định giá cổ phiếu

Haizzz…

Bạn đang thở dài?

Danh sách các tiêu chí sao mà dài thế?

Vì sao ư?

Để giúp “cái đầu nóng” của bạn có đủ thời gian xem xét lại tất cả các vấn đề.

Điều này giúp bạn sẽ không còn vội vàng hành động theo cảm xúc nữa.

Bước cuối cùng

Bạn cần biết được giá trị nội tại của cổ phiếu đó là bao nhiêu.

Dưới đây là 4 tiêu chí mà bạn cần đánh giá:

  • Công ty có tỷ lệ P/E thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng không? Ví dụ tỷ lệ P/E là 7.x trong khi tốc độ tăng trưởng kép dự kiến trong 5 năm tới là 10%.
  • Giá cổ phiếu có thấp hơn (discount) so với giá trị nội tại của công ty không?
  • Giá cổ phiếu có thấp hơn (discount) so với giá trị sổ sách của công ty không?
  • Công ty có động lực hay “chất xúc tác” (catalysts) gì trong tương lai gần để thúc đẩy giá cổ phiếu về đúng giá trị không?

Hãy tham khảo bài viết này của tôi: Hướng dẫn 9 cách định giá cổ phiếu đơn giản nhất trong đầu tư.

Giá trị nội tại

Rất nhiều bạn đọc đến đây sẽ đặt câu hỏi:

Tôi không có nhiều kiến thức tài chính thì làm thế nào định giá cổ phiếu?

Đừng quá lo lắng!

Giá trị cổ phiếu không phải là 1 con số chính xác tuyệt đối. Vì thế bạn chỉ cần xác định 1 khoảng giá trị của cổ phiếu mà tại đó bạn cảm thấy đủ chắc chắn và an toàn.

Để xác định khoảng giá trị này, bạn không cần phải là 1 chuyên gia về tài chính.

Bạn chỉ cần 1 vài giả thiết cơ bản lấy từ báo cáo phân tích của các công ty chứng khoán.

Sau đó áp dụng 1 vài công thức định giá đơn giản như của Benjamin Graham hay Absolute PE của Katsenelson.

Hoặc đơn giản hơn là sử dụng tỷ lệ PE, PB bình quân trong quá khứ.

Chất xúc tác (Catalysts)

Cho dù bạn đã tìm được 1 cổ phiếu tốt và đang bị định giá thấp, hãy chắc chắn rằng…

…Công ty đó sẽ có 1 vài catalysts nổi bật giúp giá cổ phiếu về đúng giá trị của nó.

Một vài catalysts thông thường như:

  • Kết quả kinh doanh vượt kế hoạch
  • Công bố 1 hợp đồng lớn mới
  • Ngành/lĩnh vực có sự tăng trưởng vượt bậc
  • Nhà nước công bố chính sách, quy định mới có lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty

———————————————-

GoValue đang đầu tư giá trị như thế nào?

Người ta vẫn nói rằng:

Nói thì dễ – Làm mới khó!

Trong nhiều năm qua, GoValue đã phân tích và đánh giá hàng trăm cổ phiếu dưới góc nhìn đầu tư giá trị.

Những nghiên cứu này là nguồn tham khảo hữu ích cho bạn nếu bạn mới bắt đầu tìm hiểu về đầu tư.

Tham khảo những nghiên cứu cổ phiếu của GoValue tại đây.

Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy giúp GoValue chia sẻ nó nhé.

Và hãy comment góp ý để giúp GoValue có thể bổ sung những kiến thức đầy đủ hơn cho độc giả.

Talk to you soon!

Thân!

Investment is complex – We make it simple!

Tiếp thep phần 1 thì chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày về cách đọc các khoản mục còn lại của bảng cân đối kế toán trong bài hôm nay.

  1. Tài sản cố định vô hình

Đây là 1 khoản mục mà hầu hết những nhà đầu tư cá nhân thường vội vàng bỏ qua khi xem báo cáo tài chính, tuy nhiên, Buffett khuyên nhà đầu tư nên dành thời gian ngâm cứu về khoản này nếu có trong bảng cân đối kế toán hoặc thuyết minh báo cáo tài chính.

  • Một trong các khoản mục tài sản vô hình cần trú trọng là quyền sử dụng đất. Lô đất đó nằm ở đâu? Tài sản hình thành trên đất là gì? Giá trị ghi sổ là bao nhiêu? Ước tính giá trị là bao nhiêu?

    https://tuvanluatdoanhnghiep.info/wp-content/uploads/2016/01/120.jpg

    Ảnh: nguồn Internet

Bạn có thể tham khảo các báo cáo của các công ty chứng khoán, hoặc sử dụng phương pháp tin đồn trên báo chí, internet để ước tính giá đất ở khu vực đó và dựa trên thông tin có được từ diện tích, bạn có thể phần nào ước tính được giá trị thực của khu đất ấy.

Đây là giá trị không được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Hãy chú ý đến nó vì giá trị của lô đất có thể ở thời điểm hiện tại đã tăng gấp hàng chục lần.

Ngoài ra còn các tài sản vô hình khác như: lợi thế cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, bản quyền, giấy phép… cũng cần được tính đến khi đánh giá doanh nghiệp

Những tài sản vô hình này càng lớn, càng nhiều thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn, rào cản đối với những doanh nghiệp mới muốn ra nhập ngành hoặc cạnh tranh với doanh nghiệp chúng ta nghiên cứu càng lớn.

Bạn cần phải ghi nhớ kỹ những điều này khi đánh giá tài sản vô hình, nếu không bạn có thể bỏ sót những doanh nghiệp rất tốt, những cơ hội đầu tư tuyệt vời, trong khi lại chạy theo những doanh nghiệp “cấp thấp” không có chút lợi thế nào.

  1. Lợi thế thương mại.
https://ytho.com.vn/wp-content/uploads/2015/12/loi-thue-thuong-mai-la-gi-goodwill-la-gi.jpg

Ảnh: nguồn internet

Khoản mục “Lợi thế thương mại” tăng lên trên bảng cân đối kế toán thì tức là doanh nghiệp vừa thực hiện 1 giao dịch thâu tóm 1 doanh nghiệp khác với giá cao hơn giá trị sổ sách của doanh nghiệp bị thâu tóm.

Tất nhiên, một doanh nghiệp bình thường sẽ rất khó bị bán với giá thấp hơn giá trị sổ sách của nó, trừ khi cả thị trường chứng khoán đang ở trong 1 cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.

Do đó, theo Buffett thì khi thấy mục “Lợi thế thương mại” thì chúng ta nên đánh giá doanh nghiệp bị thâu tóm. Nếu đó là 1 doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì bạn có thể yên tâm 1 phần rằng lợi thế thương mại trong trường hợp này là 1 dấu hiệu tốt.

  1. Nợ ngắn hạn

Nợ ngắn hạn hay nợ lưu động (current liabilities) là khái niệm để chi các khoản nợ ngắn hạn đối với các nhà cung cấp, ngân hàng v.v…trong phạm vi một năm.

Về bản chất, đó là những hóa đơn phải trả giữa người đi vay và người cho vay trong một khoảng thời gian ngắn. Thông thường, công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn của họ.

Các khoản nợ phải trả ngắn hạn bao gồm:

– Vay ngắn hạn

– Khoản nợ dài hạn đến hạn trả

– Các khoản phải trả người bán ngắn hạn

– Thuế và các khoản nộp Nhà nước

– Các khoản phải trả người lao động

– Các khoản chi phí phải trả ngắn hạn

– Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn

– Các khoản phải trả ngắn hạn khác

Đối với các khoản phải trả, bạn nên xem xét vòng quay khoản phải trả để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp.

Đối với các khoản nợ vay ngắn hạn, tùy theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà đòi hỏi cấu trúc nợ vay ngắn hạn khác nhau, tuy nhiên, dù thế nào thì một doanh nghiệp có ít nợ vay ngắn hạn thì càng tốt.

Đặc biệt đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng, Warren Buffett thường tránh những công ty có tỷ lệ nợ vay ngắn hạn cao.

  1. Nợ dài hạn

Nợ dài hạn là tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo.

Buffett cho rằng những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững thường có rất ít hoặc không có nợ vay dài hạn, bởi vì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp rất cao, ổn định và hoạt động kinh doanh luôn tạo ra dòng tiền dương đủ để tài trợ cho hoạt động đầu tư của mình, kể cả trong các trường hợp thâu tóm doanh nghiệp khác.

Nhà đầu tư nên đánh giá nợ vay dài hạn của doanh nghiệp trong 1 khoảng thời gian từ 5 – 10 năm.

Nếu trong khoảng thời gian này, doanh nghiệp sử dụng ít hoặc không có nợ vay mà vẫn có thể mở rộng kinh doanh thì chắc chắn doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh lớn trong ngành.

Trong trường hợp doanh nghiệp có nợ dài hạn lớn thì thì đi kèm với nó cũng phải có dòng tiền mặt tạo ra lớn, ban lãnh đạo ưu tiên sử dụng tiền để trở nợ sớm các khoản nợ dài hạn để tránh áp lực đòn bẩy cho doanh nghiệp.

Nếu nghiên cứu các khoản đầu tư của Buffett ta có thể thấy ông luôn ưu tiên những doanh nghiệp có lợi nhuận hàng năm đủ để trả toàn bộ nợ vay dài hạn trong khoảng 3 – 4 năm (đối với trường hợp của Coca Cola và Moody’s chỉ là 1 năm).

Qua 2 khoản mục nợ ngắn hạn và nợ dài hạn thì chúng ta sẽ có một cái nhìn tổng quan về nợ của doanh nghiệp: phần lớn những DN tốt sẽ dùng khả năng tạo lợi nhuận của mình để tái đầu tư cho các kế hoạch phát triển tương lai mà ít lạm dụng vào nợ.

https://lee-legal.com/wp-content/uploads/2017/11/Feds-Sue-Nations-Largest-Debt-Settlement-Company-Lee-Legal-Debt-Settlement-DC-Virginia-Maryland-1024x424.jpg

Ảnh: nguồn internet

Một trong những yếu tố quan trọng của sự cân đối tài chính là tài sản dài hạn cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng. Một doanh nghiệp nếu đầu tư vào một dự án dài hạn có thời hạn khoảng 15 năm mà vay bằng một khoản vay 6 năm, không sớm thì muộn, điều này sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Để sớm nhận biết được điều này, nhà đầu tư cần quan sát xu hướng biến động lịch sử dài hạn của vốn lưu động thuần (WC). Có thể tính WC theo công thức sau: WC = (Tài sản ngắn hạn – Tiền, tương đương tiền – Đầu tư ngắn hạn) – (Nợ ngắn hạn – vay nợ ngắn hạn)

Nếu WC có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn thì điều này đang báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt của mất cân đối tài chính.Vốn lưu động thuần âm cho thấy công ty đã dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

– Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn giảm theo các năm là một dấu hiệu tốt.

Một số chỉ số tài chính chúng ta nên sử dụng để có cái nhìn tốt hơn về tình hình sử dụng đòn bẩy của doanh nghiệp.

– Hệ số nợ = Nợ/Tổng tài sản. Buffett ưa thích doanh nghiệp có hệ số nợ < 0.5 và càng thấp thì càng tốt.

– Hệ số thanh toán hiện hành = Tổng tài sản lưu động ( tổng TS Ngắn hạn)/ Tổng nợ hiện hành (hay tổng nợ ngắn hạn) . Nếu tỉ số này >1 thì là tốt, >2 thì rất tốt, <1 thì là không tốt. Nhưng nó không cho ta biết công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững hay không.

– Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ / VCSH. Buffett thích công ty có hệ số này càng thấp càng tốt. Và nếu hệ số này <0.8 thì rất có khả năng đây là công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Như vậy chúng tôi đã trình bày cho các bạn về những điều cần chú ý khi đọc bảng cân đối kế toán theo cách của Buffett. Mong những kiến thức trên sẽ giúp nhà đầu tư thành công hơn trong việc lựa chọn một doanh nghiệp tốt cho danh mục đầu tư giá trị.

theo Warren Buffett Financial Report

Ở bài viết này thì chúng ta đã hiểu sơ qua về cách Buffet tìm kiếm những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững để đầu tư. Trong phần này chúng ta hãy tập trung đi sâu về những vấn đề các nhà đầu tư cần chú ý khi đọc báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

http://bahiconsulting.com/wp-content/uploads/2018/03/Income-Statement-Vector-Converted-1.png

Ảnh: Nguồn BahiConsulting

Khi phân tích vào Báo cáo kết quả kinh doanh, điều quan trọng nhất là phải đào sâu vào trong từng khoản mục, từng thuyết minh để xác định chất lượng của lợi nhuận (quality of earnings) và những điều ẩn sau những con số. Nhà đầu tư nên nhớ: Buffett luôn ưu tiên sự ổn định qua các năm của các con số trong báo cáo tài chính.

  1. Biên lợi nhuận gộp

Biên lợi nhuận gộp = lợi nhuận gộp (= tổng doanh thu – giá vốn hàng bán)/tổng doanh thu (hay doanh thu thuần)

Biên lợi nhuận tăng đều qua các năm là dấu hiệu của một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh và bộ máy hoạt động kinh doanh hiệ quả.

Khi có biên lợi nhuận gộp cao thì doanh nghiệp có thể tăng giá mà không làm giảm cầu của khách hàng. Theo Buffett thì:

  • Nếu Biên lợi nhuận gộp càng cao càng tốt, nếu lớn hơn 30%, doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn.
  • Nếu Biên lợi nhuận gộp từ 20-30%, thì doanh nghiệp hoạt động tốt, chấp nhận được.
  • Nếu Biên lợi nhuận gộp nhỏ hơn 10%, khả năng cao doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh nào. Và sự cạnh tranh đến từ đối thủ khác có thể bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong nhiều ngành nghề, biên lợi nhuận gộp có thể là rất nhỏ, khi đó, bạn hãy luôn nhớ rằng ổn định của biên lợi nhuận và biên lợi nhuận cao nhất trong ngành là một yếu tố mà bạn cần tìm ở doanh nghiệp.

  1. Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp

Buffett ưa thích sự ổn định của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong nhiều năm.

Một doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh sẽ có các chi phí này biến động rất nhiều hàng năm so với lợi nhuận gộp.

  • Nếu tỷ lệ chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp / lợi nhuận gộp nhỏ hơn 30%, thì đây là một doanh nghiệp tuyệt vời với khả năng quản lý chi phí tốt.
  • Nếu tỷ lệ này cao hơn 70%, doanh nghiệp đang kinh doanh trong 1 ngành nghề rất cạnh tranh và gần như không có 1 lợi thế cạnh tranh gì đặc biệt.
  • Một yếu tố cần để ý là, các DN nào có tỷ số chi phí này thấp dần, phần lớn đều có khả năng tăng giá bán trong ngành nghề hoạt động mà ít phụ thuộc vào việc đẩy mạnh chi phí bán hàng.
  1. Chi phí nghiên cứu phát triển (R&D)

    https://www.kirkrice.co.uk/wp-content/uploads/2017/06/R-D-process-2.jpg

    Ảnh: nguồn KirKrice

Trong báo cáo tài chính tại Việt Nam, chi phí R&D không được tách thành 1 khoản mục riêng. Nhưng có nhiều công ty niêm yết ở Mỹ có công bố chi phí R&D trong báo cáo kết quả kinh doanh.

Nếu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ những bằng sáng chế hoặc lợi thế từ 1 công nghệ mới (như các doanh nghiệp liên quan tới công nghệ), đến 1 thời điểm nào đó lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ không còn nữa vì những phát minh sáng chế, hay công nghệ đó khi hết quyền bảo vệ trí tuệ thì sẽ bị sao chép rất nhanh.

Buffet thường đánh giá cao những doanh nghiệp có tỷ lệ R&D/doanh thu ở mức thấp tương đối so với các doanh nghiệp trong ngành nhưng luôn được duy trì ổn định.

  1. Chi phí khấu hao

Một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững thường có tỷ lệ khấu hao/lợi nhuận gộp thấp trong ngành.

  1. Chi phí lãi vay

Một doanh nghiệp có tỷ lệ lãi vay cao khi so sánh với lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính (operating income, hay EBIT) thì sẽ có 2 tình huống:

  • Doanh nghiệp ở trong 1 ngành nghề có sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng cơ bản (Capex) rất lớn hàng năm để duy trì vị thế cạnh tranh
  • Doanh nghiệp có tình trạng kinh doanh rất tốt và đang sử dụng đòn bẩy nợ vay cho hoạt động thâu tóm mua lại.
https://cafebiz.cafebizcdn.vn/thumb_w/600/2015/squeezed-debt-1442822475852-1442915158846.jpg

Ảnh: Nguồn cafebiz

Đối với Warren Buffett, một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thường có rất ít, hoặc không có lãi vay. Với Buffett thì nếu tỉ lệ chi phí lãi vay/lợi nhuận gộp càng thấp càng tốt, nếu tỉ lệ này dưới 10% thì là rất tốt.

Mặc dù lãi vay phải trả của từng doanh nghiệp sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng ngành nghề, tuy nhiên, trong bất kỳ ngành nghề nào, một doanh nghiệp có tỷ lệ lãi vay/EBIT thấp nhất thì luôn là 1 doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhất định.

  1. Lợi nhuận ròng

Bạn cần phải đánh giá xu hướng ổn định và tăng trưởng đều đặn, đồng nhất của doanh nghiệp qua từng năm. Buffett cũng khuyên chúng ta nên loại bỏ thu nhập, chi phí từ hoạt động khác, lợi nhuận bất thường khi tính toán lợi nhuận ròng. Vì những khoản này không thể hiện gì về chất lượng của hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh nghiệp.

http://1.bp.blogspot.com/-aXYRI93w9KQ/VRe5yXGk3bI/AAAAAAAADwI/B0uJiO53XAc/s1600/profit1.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Buffet ưa thích các doanh nghiệp có lợi nhuận ròng có tốc độ tăng trưởng qua các năm, và các năm gần đây lợi nhuận không âm.

Ngoài ra, bạn cần chú ý xu hướng lợi nhuận ròng khác với xu hướng EPS vì doanh nghiệp có thể pha loãng cổ phiếu hoặc mua lại cổ phiếu quỹ. Và tất nhiên, xu hướng EPS được ưu tiên hơn xu hướng lợi nhuận ròng. Buffett cũng thích các doanh nghiệp có EPS tăng đều qua các năm.

Nếu doanh nghiệp có tỷ lệ lợi nhuận ròng/doanh thu (ROS) duy trì ở mức cao trên 20% trong nhiều năm thì đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy doanh nghiệp đang được hưởng lợi từ 1 lợi thế cạnh tranh dài hạn nào đó.

Nếu tỷ lệ này thấp hơn 10% thì khả năng cao doanh nghiệp đang trong ngành có tính cạnh tranh khá cao.

Sau bài này, mong các bạn đã hiểu được 1 trong nhưng cách đọc báo cáo kết quả kinh doanh của nhà đầu tư giá trị nổi tiếng Warren Buffett. Ở phần tiếp theo, chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu tiếp về cách đọc bảng cân đối kế toán của Buffett nhé.

theo Warren Buffett Financial Report  

Thị trường chứng kiến nhiều cổ phiếu có mức giá cao và tăng trưởng nóng nhưng lại giúp nhà đầu tư thu về mức lợi suất cao.

Benjamin Graham, "cha đẻ" của trường phái đầu tư giá trị, đã qua đời hơn 30 năm trước. Tuy nhiên, ý tưởng mà ông khai sinh ra – mua cổ phiếu ở mức giá rẻ và giữ chúng để thu được mức lợi suất siêu cao trong dài hạn – vẫn còn được nhiều người theo đuổi cho đến tận ngày nay.

Dẫu vậy, trong thời gian gần đây, thị trường chứng kiến nhiều cổ phiếu có mức giá cao và tăng trưởng nóng nhưng lại giúp nhà đầu tư thu về mức lợi suất cao và khiến các cổ phiếu giá trị trở nên kém hấp dẫn. Vậy thì có phải triết lý của Graham đã không còn đúng nữa? Câu trả lời chắc chắn là không. Tuy nhiên, các nhà đầu tư giá trị cũng không thể chối bỏ sự thực và có lẽ họ đang suy nghĩ liệu có phải thế giới đã thay đổi hay không.

Trong quan điểm đầu tư của Graham, người thầy của nhà tiên tri xứ Omaha Warren Buffett và là một trong những nhà đầu tư vĩ đại nhất, có 3 trụ cột chính.

Trước tiên, một cổ phiếu không phải là một mảnh giấy hay một chấm nhỏ trên màn hình, mà nó đại diện cho số cổ phần mà nhà đầu tư sở hữu trong 1 công ty. Giá cổ phiếu được xác định dựa trên dòng tiền mà công ty đó sản sinh trong tương lai.

Thứ hai, thị trường chứng khoán có thể nhanh chóng chuyển từ trạng thái hưng phấn sang chán chường cực độ, nhưng bạn không có nghĩa vụ phải chia sẻ chung tâm trạng đó.

Thứ ba, bạn phải tính đến biên an toàn – tức là giá trị của cổ phiếu nên được xác định trong một khoảng nào đó, với nhiều khả năng xảy ra chứ không phải là một con số chính xác tuyệt đối, với sự chắc chắn tuyệt đối.

Phó Chủ tịch Berkshire, Charlie Munger, từng nhận định phương pháp tiếp cận của Graham sẽ không bao giờ lỗi thời. Tuy nhiên, trên thực tế, thời gian gần đây phong cách đầu tư của Graham đã trở nên kém hấp dẫn.

Benjamin Graham - Ảnh 1.

Trong 5 năm qua, chỉ số S&P 500 Growth Index với đặc trưng là các cổ phiếu tăng trưởng nóng như Amazon và Alphabet đã tăng trưởng 14,2% mỗi năm, trong khi chỉ số S&P 500 Value Index với những cổ phiếu giá trị như JPMorgan và AT&T chỉ đem về mức lợi suất 8,7% mỗi năm. Xét trong quãng thời gian dài hơn, trong 20, 25, 30, 35 và 40 năm trở lại đây, nhóm Growth cũng nhỉnh hơn một chút so với nhóm Value.

Một phần nguyên nhân là do càng lớn hơn thì các ông lớn công nghệ ngày càng hùng mạnh hơn thay vì trở nên trì trệ. Điều đó đồng nghĩa các đối thủ yếu hơn không thể hồi phục sau các cú ngã, khiến các cổ phiếu đảo chiều mà các nhà đầu tư giá trị ưa thích ít xuất hiện hơn.

Sau khi bong bóng công nghệ vỡ tung đầu những năm 2000, các nhà đầu tư quay sang ưa chuộng sự an toàn hơn là tăng trưởng. Trong 10 năm tính đến cuối năm 2014, các nhà đầu tư đã rút khoảng 273 tỷ USD khỏi các quỹ đầu tư vào nhóm cổ phiếu tăng trưởng để rót 87 tỷ USD vào các quỹ đầu tư giá trị, theo số liệu của Morningstar. Và khi mà đầu tư giá trị trở nên phổ biến hơn, lợi suất mà nó đem lại bị giảm xuống.

Trong khi đó, ngày càng ít nhà đầu tư giá trị phân tích từng cổ phiếu cổ phiếu một bằng tay. Họ thường sử dụng máy tính để phân tích cùng lúc một loạt cổ phiếu. Điều này giúp giảm chi phí, nhưng cũng khiến giá tăng lên, làm giảm nguồn cung các món hời, theo Tano Santos – đồng sáng đốc của Heilbrunn Center for Graham & Dodd Investing trực thuộc Columbia Business School.

Michael Mauboussin – giám đốc nghiên cứu tại quỹ đầu cơ BlueMountain có trụ sở tại New York, ví việc lựa chọn cổ phiếu cũng giống như trò poker. Trong bối cảnh ngày càng xuất hiện nhiều quỹ đầu tư chỉ số chi phí thấp và chiến lược phân tích tự động ngày càng trở nên phổ biến, những người yếu hơn sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và trên bàn chỉ còn lại những người thông minh nhất. Để những người còn lại có lời thì phải có người bị thua lỗ. Cuộc chơi ngày càng trở nên khó hơn chứ không phải đơn giản hơn và dễ hơn.

Nếu còn sống đến tận bây giờ, có lẽ Graham sẽ cảm thấy khá lạc lõng. Trong cuốn "Nhà đầu tư thông minh", ông bày tỏ sự hoài nghi lớn đối với các doanh nghiệp quá dư thừa tiền mặt. Trong suốt thời kỳ Đại khủng hoảng, ông đã kỳ thị các công ty tích lũy tiền mặt cho riêng mình thay vì trả cổ tức cho nhà đầu tư.

Ngày nay, Amazon có lượng tiền mặt khổng lồ và CEO dùng chúng để tái đầu tư vào những dự án mạo hiểm mà phải rất nhiều năm mới mang về quả ngọt. Cổ phiếu Amazon không bao giờ rẻ nếu áp dụng cách tính toán của phương pháp đầu tư giá trị truyền thống, nhưng mới đây Berkshire đã mua vào cổ phiếu này.

Theo giáo sư Santos, định giá các CEO của những công ty giàu tiền mặt, những người phải phân bổ hàng tỷ USD vốn, đã trở thành một nhiệm vụ của nhà đầu tư giá trị hiện đại. Chí ít thì đến thời điểm này đây là nhiệm vụ mà con người làm tốt hơn các phần mềm máy tính. Trong thế giới ngày nay, điều này càng có ý nghĩa quan trọng nếu nhà đầu tư muốn tách mình ra khỏi đám đông.

Điều đó cũng dẫn đến công việc mà kể cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp nhất cũng cảm thấy khó khăn: đầu tư một cách kiên nhẫn vào những công ty tập trung vào các mục tiêu dài hạn thay vì lợi nhuận ngắn hạn và biến động giá cổ phiếu trong ngắn hạn.

theo WSJ

Tiếp theo phần về báo cáo kết quả kinh doanh, trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp về cách đọc bảng cân đối kế toán của Warrent Buffett.

Bảng cân đối kế toán giúp nhà đầu tư có thể nghiên cứu về tài sản của doanh nghiệp, các khoản nợ và vốn chủ sở hữu trong thời điểm lập báo cáo.

https://previews.123rf.com/images/wirojsid/wirojsid1508/wirojsid150800037/43087689-rapporto-di-bilancio-con-calcolatrice-e-penna-il-documento-%C3%A8-un-mock-up.jpg

Ảnh: Nguồn Internet

Trong bảng cân đối kế toán các bạn có thể thấy 2 phần Tài sản, nguồn vốn

Phần 1: Tài sản bao gồm tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, đất đai, máy móc thiết bị nhà xưởng,…

Phần 2: Bao gồm Nợ và vốn chủ sở hữu.

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về các khoản mục này qua bài viết hôm nay nhé.

  1. Tiền mặt và các khoản tương đương tiền
http://sohanews.sohacdn.com/thumb_w/660/2017/photo1511063538874-1511063539018-0-0-636-1024-crop-1511063544255.jpg

Ảnh: Internet

Có thể nói tiền mặt là công cụ mạnh nhất để một doanh nghiệp có thể chống chọi với thời điểm khó khăn. Một doanh nghiệp liên tục thiếu tiền mặt thì không thể có tình hình tài chính ổn định.

Một lượng tiền mặt cao có thể được hiểu là 1 trong những tình huống sau:

  • Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo ra nhiều tiền mặt liên tục.
  • Doanh nghiệp vừa có 1 khoản thu nhập bất thường nào đó

Nếu tiền và các khoản tương đương tiền nếu ở mức cao thường có 2 mặt:

  • Mặt tích cực là có thể doanh nghiệp có 1 lợi thế cạnh tranh bền vững giúp hoạt động kinh doanh tạo ra tiền mặt liên tục
  • Mặt tiêu cực là doanh nghiệp đang “bế tắc” trong việc tái đầu tư dòng tiền tạo ra, do đó không còn cách nào khác là gửi ngân hàng hoặc trả cổ tức tiền mặt cao cho cổ đông

Ngoài ra, tiền mặt cao cũng có thể doanh nghiệp vừa có 1 khoản dòng tiền bất thường nào đó, mà chúng ta có thể tìm hiểu trong phần thuyết minh.

Theo Buffett thì số dư tiền mặt cần chiếm khoảng ít nhất 10% nợ ngắn hạn thì mới được coi là có lượng tiền mặt tương đối khá (tức là hệ số khả năng thanh toán tức thời = tiền và tương đương tiền/nợ ngắn hạn khoảng từ 10% trở lên).

Tiền tăng liên tục thì dấu hiệu tốt, còn giảm liên tục, teo tóp dần là dấu hiệu xấu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thông thường, có 3 cách để có 1 lượng dự trữ tiền mặt lớn, đó là:

  • Phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu
  • Bán tài sản lớn hoặc công ty con, hoặc công ty liên kết
  • Hoạt động kinh doanh tốt nên tạo ra dòng tiền dương.

Nhà đầu tư nên đọc bảng cân đối của doanh nghiệp trong từ 3-10 năm để đánh giá chính xác nguồn tiền mặt được tạo ra từ đâu trong 3 cách trên.

Khi môt doanh nghiệp gặp phải những khó khăn ngắn hạn về kinh doanh hoặc tài chính, Warren Buffett thường nhìn vào lượng tiền mặt và những giấy tờ có giá dễ thanh khoản để đánh giá sức mạnh tài chính của doanh nghiệp có đủ để vượt qua những khó khăn ngắn hạn đó hay không.

Khi đó, lượng tiền mặt, tiền gửi ngắn hạn, trái phiếu và cổ phiếu có thanh khoản cao càng lớn thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể dễ dàng vượt qua khó khăn.

  1. Các khoản phải thu

Bên cạnh tiền và tương đương tiền thì khoản phải thu cũng một mục quan trọng nhất khi đánh giá báo cáo tài chính.

http://1.bp.blogspot.com/--lm7f0wSnLY/VXm2ox3-fmI/AAAAAAAACG0/nYE9ra8qOLY/s1600/khoan-thu.jpg

Ảnh: internet

Hiểu đơn giản thì khoản phải thu là số tiền doạn nghiệp bán nợ cho khách hàng hoặc nhà phân phối. Khoản phải thu ngắn hạn và dài hạn qua các năm giảm dần thì là tốt (dấu hiệu cho rằng công ty không bị chiếm dụng vốn).

Trong một ngành nghề có tính cạnh tranh cao, để có thể giữ được vị thế (thị phần) bán hàng, nhiều doanh nghiệp thường có những chính sách chiết khấu cao hoặc chính sách thanh toán chậm cho những nhà phân phối, đại lý.

Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng (hoặc giữ) được doanh số, tuy nhiên các khoản phải thu cũng sẽ tăng lên tương ứng.

Do đó, bạn cần đánh giá sâu hơn về tỷ lệ các khoản phải thu/doanh thu của doanh nghiệp trong nhiều năm liền có ổn định không và có thấp hơn so với các doanh nghiệp khác trong ngành không. Theo Buffett thì tỷ lệ này của doanh nghiệp thấp hơn 30% là rất tốt, từ 30-50% thì nhà đầu tư có thể chấp nhận được. Tỷ lệ khoản phải thu càng cao so với doanh thu cho thấy rủi ro của doan nghiệp, bởi việc gia tăng doanh số bán hàng không đồng nghĩa với việc dòng tiền thu về tương ứng.

Nếu doanh nghiệp duy trì tỷ lệ này ổn định và thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong ngành, thì có thể doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh nhất định đối với khách hàng, hoặc đối với nhà phân phối và các đại lý.

Quan trọng: Mục tiêu của nhà đầu tư khi đánh giá không phải là chỉ nhìn vào các con số tuyệt đối mà chúng ta phải nhìn được xu hướng của các con số, các tỷ lệ trong 1 khoảng thời gian dài 3-10 năm và so sánh với xu hướng của các tỷ lệ tương tự ở các doanh nghiệp đối thủ trong ngành.

  1. Hàng tồn kho
https://blog.mypage.vn/wp-content/uploads/2017/05/hang-ton-kho.jpg

Ảnh: Internet

Khi đánh giá hàng tồn kho đối với những doanh nghiệp sản xuất, bạn nên chú ý đến những điểm chính sau:

  • Những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì sản phẩm của họ sẽ không cần phải thay đổi quá nhiều để chạy theo nhu cầu của khách hàng và vì thế sản phẩm sẽ rất khó trở nên lỗi thời.

Warren Buffett luôn đánh giá cao đặc điểm này, chẳng hạn như sản phẩm của Coca Cola là 1 ví dụ điển hình cho lựa chọn của Buffett.

  • Khi bạn muốn xác định những dấu hiệu của lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp sản xuất, bạn có thể đánh giá kỹ sự tăng trưởng đồng đều giữa hàng tồn kho và doanh thu.

Một doanh nghiệp luôn có 1 tỷ lệ khách hàng mới, đơn hàng mới ổn định thì sẽ có lượng hàng tồn kho và doanh thu tăng tương ứng với nhau.

  • Một doanh nghiệp có hàng tồn kho tăng giảm đột biến (hoặc thất thường) thường thể hiện sự không hiệu quả trong quản lý hàng tồn kho, hoặc hoạt động kinh doanh không thực sự hiệu quả.
  1. Tài sản cố định hữu hình

Warren Buffett từng nói rằng:

“Tôi thích những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững vì thế họ không tốn quá nhiều tiền đầu tư thêm tài sản nhưng vẫn có thể tạo ra được dòng tiền ổn định, đều đặn.”

Hay diễn đạt theo 1 cách khác, những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thì Capex sử dụng để duy trì vị thế hiện tại sẽ không lớn.

Ngược lại, những doanh nghiệp không có lợi thế cạnh tranh sẽ phải tốn chi phí nâng cấp nhà cửa thiết bị một cách liên tục.

Ngoài ra, một điểm khác biệt nữa giữa doanh nghiệp có và không có lợi thế cạnh tranh đó là, những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh có thể sử dụng dòng tiền hiện có để tài trợ cho việc mua mới tài sản cố định.

Nhiều doanh nghiệp không đủ tiền thì sẽ phải tài trợ nhiều bằng nợ vay, do đó, biên lợi nhuận sẽ thấp hơn và sức khỏe tài chính cũng kém hơn.

Do đó, đối với khoản mục này, bạn nên xem xét thêm tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ capex hàng năm so sánh với tăng trưởng doanh thu, và tỷ lệ capex được tài trợ bằng nợ vay.

Và tất nhiên, bạn cần đánh giá trong 1 khoảng thời gian đủ dài, tối thiểu là 5 năm, và so sánh với các doanh nghiệp đối thủ trong ngành để có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất.

theo Warren Buffett Financial Report

"Nhà thông thái xứ Omaha" luôn khiến mọi người bất ngờ về chiến lược của mình.

Đạt được thành công và đưa ra những quyết định quan trọng luôn đi đôi với nhau. Vậy đâu là cách tốt nhất để đưa ra quyết định trong lúc khó khăn một cách hợp lý nhất?

Đó là vấn đề mà một sinh viên đã hỏi tỷ phú Warren Buffett năm 2005 trong buổi hỏi đáp cùng người đồng sáng lập tập đoàn Microsoft, Bill Gates tại trường Đại học Nebraska-Lincoln.

Và câu trả lời của huyền thoại đầu tư 88 tuổi là hãy nghĩ đến danh tiếng của mình. Sự chính trực và đạo đức là hai yếu tố quan trọng giúp hình thành và xây dựng danh tiếng một cách vững chắc.

Buffett chia sẻ: "Chúng tôi (ý chỉ ông và Bill Gates) đã có đủ số tiền mình cần. Đôi khi để có nhiều tiền hơn, chúng tôi chấp nhận mất tiền ở giai đoạn đầu (đầu tư) nhưng có một điều mà chúng tôi không bao giờ để mất chính là danh tiếng".

Chiến lược "newspaper test’

Quản lý 360.000 nhân viên của cỗ máy đầu tư Berkshire Hathaway là một trách nhiệm không hề nhẹ nhàng với tỷ phú Warren Buffett. Không những vậy, việc đảm bảo rằng tất cả các nhà quản lý đều đưa ra những quyết định mang tính đạo đức kinh doanh cũng không dễ dàng một chút nào.

Chính vì vậy, Buffett đã nghĩ ra một chiến lược thông minh: Yêu cầu các giám đốc đánh giá mọi hành động mà họ thực hiện nhưng không chỉ dựa trên tiêu chuẩn pháp lý mà còn bởi thứ mà ông gọi là ‘newspaper test’.

Nếu một người quản lý bày tỏ sự không chắc chắn, Buffett sẽ hỏi người đó cảm thấy ra sao khi hành động của mình sẽ được lên báo vào ngày hôm sau. Thêm vào đó, vị tỷ phú nhấn mạnh rằng bài báo nhiều khả năng được viết bởi một phóng viên "thông minh nhưng không thực sự am hiểu vấn đề và không mấy thiện chí".

Theo Buffett, quyết định nào vượt qua được bài test này sẽ được chấp thuận và ngược lại. Ngoài ra, các nhà quản lý có thể gọi điện và hỏi ý kiến của ông về một vấn đề trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.

Tiêu chuẩn bên trong và bên ngoài

Đối với Buffett, danh tiếng rất quan trọng nhưng một điều khác cũng trọng yếu không kém là mặc dù ai cũng muốn được ngưỡng mộ nhưng chúng ta không bao giờ nên thỏa hiệp với các tiêu chuẩn của chính mình.

"Tôi nhận được vô vàn lời khuyên hữu ích từ cha của tôi. Ông ấy dạy tôi rằng những gì tôi cảm thấy ở bên trong quan trọng hơn những gì ở bên ngoài. Một số người đạt tới vị trí cao trong xã hội phần nhiều vì cho rằng đó là điều khiến mọi người xung quanh nghĩ về thay vì là điều mà bản thân họ nghĩ về".

Tiêu chuẩn bên trong đề cập đến việc sống với các giá trị có ý nghĩa đối với chính mình trong khi tiêu chuẩn bên ngoài đề cập đến cách mà người khác đánh giá một người. Cuối cùng, Buffett cho biết nếu bạn có thể tìm thấy sự bình yên và thoải mái với những tiêu chuẩn bên trong thì bạn sẽ sống một cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên, không nhiều người làm được điều đó vì họ thường chỉ chú ý đến tiêu chuẩn bên ngoài.

Theo Guy Spier, một nhà đầu tư từng có cơ hội gặp gỡ Warren Buffett, huyền thoại đầu tư này chính là một ví dụ điển hình cho những gì ông từng chia sẻ.

Spier viết: "Một trong những đặc điểm ‘định nghĩa’ con người Warren Buffett là ông ấy sống bằng những tiêu chuẩn bên trong của mình. Ông ấy không chỉ làm điều đúng đắn mà còn làm những điều đúng với bản thân. Buffett không hề gượng gạo hay giả tạo một chút nào khi tiếp xúc với người khác và không bao giờ thỏa hiệp với các tiêu chuẩn cũng như vi phạm niềm tin cá nhân".

theo CNBC

More Articles ...

Page 1 of 5

Mời các bạn tham khảo video và đừng quên nhấn vào đăng ký nếu thấy kênh hữu ích TẠI ĐÂY